- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Hữu H. Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Hữu H, sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
A N NH N N
N H A
H
H N H A
NAM
NH M N
– d – H nh h Bản án số: 42/2018/HS-PT Ngày: 27-7-2018
NHÂN DANH
N
N H A
H
H N H A
NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH M NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Hương
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Hiệp
Ông Trịnh Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào; Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2018/TLPT-HS ngày 14/5/2018 đối với bị cáo Mai Hữu H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2018/HSST ngày 10/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Mai Hữu H, sinh năm 1981 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ 20, thôn PN, xã HT, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Hữu Tr, sinh năm 1954, con bà Chu Thị B, sinh năm 1956; Vợ: Cao Thị Th, sinh năm 1989; Con: Có 03 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2017 đến ngày 13/02/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại chờ xử lý. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
N I DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn trong việc làm ăn giữa bà Nguyễn Thị Q với bà Cao Thị Th, sinh năm 1989, trú tại xã HT, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng. Nên vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 05/5/2016, trong lúc làm việc tại Lò mổ Tường – Lan tại thôn Phi Nôm, xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, giữa bà Q với bà Th xảy ra cãi vã to tiếng với nhau. Lúc đó, bị cáo Mai Hữu H là chồng của bà Th, đang làm chung tại lò mổ, thấy vợ mình cãi nhau với bà Q thì bị cáo H vùng đứng lên, hất tay đang cầm dao nhọn, là dao đang dùng để làm lòng bò, đâm vào nách phải của bà Q. Hậu quả bà Q bị thương và được mọi người đưa đi cấp cứu, còn bị cáo H bỏ việc chạy về nhà.
Quá trình điều tra, bị cáo Mai Hữu H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Ngày 24/8/2016 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an nhân dân huyện Đức Trọng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 144/CQCSĐT đến Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng để giám định theo yêu cầu điều tra vụ án. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 170/2016/TgT ngày 05/9/2016 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng xác định bà Nguyễn Thị Q bị thương tích: Vết thương vùng nách đầu vào 6.5cm, đầu ra 01cm; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 11% (mười một phần trăm); tổn thương do vật sắc nhọn, bản rộng gây nên.
Về vật chứng trong vụ án gồm: 01 con dao cán gỗ màu đen, dài 30cm, bản rộng 05cm, đầu nhọn, lưỡi dao màu trắng. Vật chứng này, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Q yêu cầu bị cáo Mai Hữu H bồi thường tổng số tiền viện phí và chi phí thời gian điều trị là 108.663.000 đồng. Bị cáo H đã khắc phục bồi thường được cho bà Q số tiền 30.000.000 đồng. Số tiền còn lại hai bên yêu cầu giải quyết theo quy định.
Bản án số 22/2018/HSST Ngày 10/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Tuyên bố Mai Hữu H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Mai Hữu H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2017 đến ngày 13/02/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015. Buộc bị cáo Mai Hữu H phải bồi thường tiếp cho bị hại Nguyễn Thị Q số tiền 24.163.000 đồng (Hai mươi bốn triệu một trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
Bản án còn xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 24/4/2018 bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm quy kết, không thắc mắc, khiếu nại đối với Bản án sơ thẩm đồng thời giữ nguyên kháng cáo đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
NHẬN ỊNH C A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 05/5/2016, tại Lò mổ Tường – Lan tại thôn Phi Nôm, xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng giữa bà Nguyễn Thị Q với bà Cao Thị Th (vợ bị cáo H) xảy ra cãi vã to tiếng với nhau. Bị cáo H đang làm chung tại lò mổ, thấy vậy dùng tay đang cầm dao nhọn là dao đang làm lòng bò, đâm vào nách phải của bà Q, gây thương tích cho bà Nguyễn Thị Q với tỷ lệ thương tật là 11%. Hành vi của bị cáo đã bị cấp sơ thẩm tuyên bố phạm tội “ Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 30.000.000 đồng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có 03 người con nhỏ, vợ bị cáo sinh con nhỏ mới hơn 01 tháng tuổi, bị cáo là lao động chính trong gia đình; đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình biên lai đã nộp đủ số tiền Bản án sơ thẩm tuyên là tiền 24.163.000 đồng để bồi thường cho người bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm, bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo nuôi con.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Hữu H, sửa Bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Mai Hữu H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Mai Hữu H 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã HT, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng quản lý, giám sát. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Mai Hữu H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT(I) – TANDTC; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - TAND, VKSND cấp sơ thẩm; - Chi cục THADS huyện Đức Trọng; - Công an huyện Đức Trọng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Án văn. | TM. H NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CH TỌA PHIÊN TÒA ( ã ký) Hoàng Thị Minh Hương |