vanban.org

Bản án 42/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị Thu T đối với ông Nguyễn Trường G.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Trường G. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 09/01/2014 cho bà Nugyễn Thị Thu Trang trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Trường G không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trang - Giang"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị Thu T đối với ông Nguyễn Trường G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN THÀNH
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10-5-2018
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Công Trường

2. Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thu Hiền – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án thụ lý số: 390/2017/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2017 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2018/QĐXX-ST ngày 30/3/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/2018/QĐST – HNGĐ ngày 20/4/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1987

Địa chỉ: Tổ 1, ấp Đ, xã L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

(Có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ 8, ấp Đ, xã X, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày: Bà và ông Nguyễn Trường G qua một thời gian tìm hiểu thì đi đến hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào ngày 28/8/2013.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông Nguyễn Trường G có nhiều mối quan hệ bất chính ở bên ngoài, không quan tâm tôn trọng bà, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Tình trạng này diễn ra nhiều lần làm cho cuộc sống vợ chồng nặng nề, không có hạnh phúc. Bà đã nhiều lần khuyên bảo ông Nguyễn Trường G nhưng không có kết quả. Hiện nay bà và ông Nguyễn Trường G đã sống ly thân.

Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông Nguyễn Trường G nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Trường G có 01 con chung là Nguyễn Bảo A, sinh ngày 09/01/2014. Bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông Nguyễn Trường G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Nguyễn Trường G theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên ông Nguyễn Trường G không đến Tòa án làm việc và cũng không Nguyễn Trường Gửi văn bản thể hiện quan điểm của mình về tranh chấp với bà Nguyễn Thị Thu T. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành cho rằng:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thì thấy:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên vụ án còn vi phạm thời hạn xét xử.

- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.

- Đối với nguyên đơn, đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T đối với ông Nguyễn Trường G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trường G, được nuôi dưỡng các con chung nên đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn, con chung”.

Bị đơn ông Nguyễn Trường G có địa chỉ tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành.

Ông Nguyễn Trường G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham dự phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trường G theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào các giấy tờ tài liệu do các đương sự cung cấp đã có đủ cơ sở để xác định: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Trường G tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông Nguyễn Trường G có nhiều mối quan hệ bạn bè bên ngoài nên không quan tâm đến bà T dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hiện nay ông bà đã sống ly thân. Tại phiên tòa bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trường G.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T, ông Nguyễn Trường G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà T đối với ông Nguyễn Trường G.

Về con chung: Bà T và ông Nguyễn Trường G có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 09/01/2014. Bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu A đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông Nguyễn Trường G cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu A còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của bà T, mặt khác từ khi bà T và ông Nguyễn Trường G sống ly thân cháu A trực tiếp sống với mẹ, ông Nguyễn Trường G không cấp dưỡng nuôi con. Do đó để bảo đảm sự phát triển bình thường cả về thể chất và tinh thần cho cháu A cần giao cháu A cho bà T trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Trường G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xem xét.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T tự nguyện nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị Thu T đối với ông Nguyễn Trường G.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Trường G.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 09/01/2014 cho bà Nugyễn Thị Thu Trang trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Trường G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Các bên được quyền đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.

Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008093 ngày 17/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí.

3. Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ