- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Mỹ Thanh với Lê Văn Mười"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2018/HNGĐ-ST. Ngày: 16/5/2018. “V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HTB
,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Trí
2. Ông Ngô Đình Bảo Thiện
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện HTB , tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện HTB , tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Truyền – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HTB , tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 463/2017/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2017, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2018/QĐST-DS ngày 29/3/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2018/QĐST-DS ngày 16/4/2018 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị M.T – Sinh năm 1976 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố B, phường Pi, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
2.Bị đơn: Anh Lê Văn M – Sinh năm 1975 (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26/11/2017cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị M.T trình bày: Chị và anh Lê Văn M cưới nhau vào năm 2001 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Phú Long, huyện HTB , tỉnh Bình Thuận. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng thuê nhà sống tại thành phố Phan Thiết. Vợ chồng sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh M thường xuyên uống rượu say xỉn, không tham gia nuôi con và sinh lý không phù hợp. Vợ chồng không còn sống chung và quan hệ tình cảm khoảng 09 năm nay và anh M đã có vợ khác. Trong thời gian không sống chung thì vợ chồng cũng không có gặp nhau để bàn bạc hàn gắn hạnh phúc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và yêu cầu xin được ly hôn với anh Lê Văn M. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên: Lê Thành Đ– sinh ngày 10/3/2002 và Lê Nhật H- sinh ngày 21/4/2007. Hiện nay con đang ở cùng với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi các con và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn M mặt nên không có lời khai trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HTB
phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị M.T đối với anh Lê Văn M.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án cùng chính quyền địa phương đã nhiều lần đến nhà ông Lê Văn M để tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông M không nhận văn bản tố tụng và không đến Tòa án huyện để cung cấp tài liệu chứng cứ gì nhằm bảo vệ quyền lợi của ông nên không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như lập biên bản về việc tiếp nhận công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của ông Lê Văn M không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa, ông M đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng nhưng ông đã từ chối, không đến Tòa, chứng tỏ ông đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, nên Tòa đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lê Văn M.
1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/QĐST-DS ngày 29/3/2018 đã ghi quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Phú Long, huyện HTB
, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện HTB
có thẩm quyền giải quyết.
2.Về áp dụng pháp luật: Do hôn nhân của các bên đương sự tồn tại đến năm 2017 là lúc Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực nên áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
3. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau: Theo lời khai của chị Huỳnh Thị M.T thì chị và anh Lê Văn M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long nên là hôn nhân hợp pháp. Chị Thanh khai nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn vợ chồng là do anh M thường xuyên uống rượu say xỉn, không nuôi con, sinh lý không phù hợp và anh M đã có vợ khác. Xuất phát từ nguyên nhân nêu trên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tình trạng hôn nhân của chị Thanh và anh Lê Văn M rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị M.T.
4. Về con chung: Chị Huỳnh Thị M.T khai phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ là vợ chồng có 02 con chung tên: Lê Thành Đ– sinh ngày 10/3/2002 và Lê Nhật H- sinh ngày 21/4/2007 hiện nay 02 cháu đang ở với chị. Chị Thanh yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 cháu và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy việc chị Thanh yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
5. Về tài sản và nợ: Chị Huỳnh Thị M.T không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.
6.Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Huỳnh Thị M.T là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Anh Lê Văn M không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
2.Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị M.T đối với anh Lê Văn M. Chị Huỳnh Thị M.T được ly hôn với anh Lê Văn M.
- Về con chung: Giao cháu Lê Thành Đ– sinh ngày 10/3/2002 và Lê Nhật H- sinh ngày 21/4/2007 cho chị Huỳnh Thị M.T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Văn M có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con.
3.Về án phí, lệ phí:Chị Huỳnh Thị M.T là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị Trang đã nộp đủ 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014798 ngày 29/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện HTB , tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.
Anh Lê Văn M không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Lê Văn M vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Thuận; -VKSND huyện HTB ; -Chi cục THADS huyện HTB ; -Các đương sự; -Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Ung Thanh Quang |