vanban.org

Bản án 42/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M. Buộc ông Lê Quốc N, bà Trần Thị Hồng M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị M số tiền họ còn nợ là 14.

“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về họ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M. Buộc ông Lê Quốc N, bà Trần Thị Hồng M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị M số tiền họ còn nợ là 14.
  • Căn cứ chính? Điều 13 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2018/DS-ST
Ngày: 01-11-2018
“V/v tranh chấp về họ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Xuân Lợi

2. Ông Trần Đình Huận

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2018/TLST-TCDS ngày 10/8/2018 về “Tranh chấp về họ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2018/QĐXXST-DS, ngày 05/10/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1966; địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

2. Bị đơn:

Ông Lê Quốc N, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Bà Trần Thị Hồng M, sinh năm 1961; địa chỉ: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30/7/2018, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị M trình bày: Do biết được ông Lê Quốc N, bà Trần Thị Hồng M làm chủ họ nên bà và ông N, bà M đã thỏa thuận chơi họ có tính lãi. Qua đó, bà đã góp 02 ống họ và được ông N hoặc bà M thu hàng ngày. Ống thứ nhất, đóng mỗi ngày 50.000 đồng, từ ngày 11/9/2015 đến ngày 20/3/2016 được số tiền là 9.500.000 đồng. Ống thứ hai, đóng mỗi ngày 100.000 đồng từ ngày 11/01/2016 đến 20/3/2016, số tiền là 7.000.000 đồng. Tổng số tiền họ 02 ống mà ông N, bà M đã thu của bà là 16.500.000 đồng. Bà đồng ý cho ông N, bà M số tiền là 2.000.000 đồng trong tổng số tiền 16.500.000 đồng, còn lại 14.500.000 đồng. Bà M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N, bà M phải thanh toán cho bà một lần số tiền họ còn nợ là 14.500.000 đồng, không yêu cầu phải tính lãi.

Tại bản tự khai, biên bản phiên họp và hòa giải cũng như tại phiên toà, bị đơn ông Lê Quốc N, bà Trần Thị Hồng M thống nhất trình bày: Giữa ông bà với bà Phạm Thị M có thỏa thuận chơi họ có tính lãi. Bà M đóng 02 ống họ số tiền là 16.500.000 đồng. Ông bà đồng ý việc bà M chỉ yêu cầu thanh toán số tiền 14.500.000 đồng. Do gia đình đang gặp hoàn cảnh khó khăn, bị vỡ họ không có khả năng thanh toán một lần số tiền 14.500.000 đồng nên ông N, bà M xin bà M được trả dần.

Đại diện VKSND huyện Quảng Trạch phát biểu quan điểm:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch không có kiến nghị đối với vụ án này.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 298, Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M, buộc Nam, bà M phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà M số tiền họ còn nợ là 14.500.000 đồng; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Phạm Thị M khởi kiện yêu cầu ông Lê Quốc N, bà Trần Thị Hồng M phải thanh toán khoản tiền họ còn nợ của bà. Vì vậy, xác định đây là “tranh chấp về họ” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự:

Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Giữa bà Phạm Thị M và ông Lê Quốc N, bà Trần Thị Hồng M đã thỏa thuận, giao dịch về tài sản với hình thức chơi họ có tính lãi. Bà M đã góp họ và ông N, bà M 02 ống họ, ống thứ nhất, đóng mỗi ngày 50.000 đồng, từ ngày 11/9/2015 đến ngày 20/3/2016, với tổng số tiền là 9.500.000 đồng. Ống thứ hai, đóng mỗi ngày 100.000 đồng từ ngày 11/01/2016 đến 20/3/2016, tổng số tiền là 7.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền họ 02 ống mà ông N, bà M đã thu của bà M là 16.500.000 đồng. Bà đồng ý cho ông N, bà M số tiền là 2.000.000 đồng, còn lại 14.500.000 đồng. Bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N, bà M phải trả khoản tiền họ trên.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, căn cứ vào các Điều 298, 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 15, 29 của Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc ông N, bà M phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà M số tiền nợ họ là 14.500.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, ông Lê Quốc N và bà Trần Thị Hồng M thừa nhận sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2007 nhưng theo biên bản xác minh ngày 20/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch tại Ủy ban nhân dân xã Q thể hiện ông N và bà M không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, ông N và bà M phải chịu nghĩa vụ liên đới đối với khoản nợ tiền họ 14.500.000 đồng của bà M theo quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự năm 2005, theo đó, ông N và bà M mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền nợ họ là 7.250.000 đồng.

Xét quan điểm, đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận vì vậy ông Lê Quốc N và bà Trần Thị Hồng M phải liên đới chịu toàn bộ án phí vụ án. Ông N và bà M mỗi người phải nộp 362.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Xét ông N, bà M có đơn xin giảm án phí do điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình đang rất khó khăn, gặp sự kiện bất khả kháng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét giảm 50% số tiền án phí cho ông N, bà M.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 298, 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 13, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M. Buộc ông Lê Quốc N, bà Trần Thị Hồng M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị M số tiền họ còn nợ là 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng), theo phần mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị M số tiền là 7.250.000 đồng (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự”.

2. Về án phí:

Buộc ông Lê Quốc N, bà Trần Thị Hồng M mỗi người phải chịu số tiền án phí là 181.000 đồng (một trăm tám mươi mốt nghìn đồng) để sung vào công quỹ nhà nước.

Bà Phạm Thị M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 362.500 đồng (ba trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu số 0001028 ngày 08/8/2018.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/11/2018).

Cỡ chữ