- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP H Việt Nam khởi kiện v/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng""
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện v/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP H Việt Nam đối với ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2018/DS-ST Ngày 06 tháng 11 năm 2018 V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nhớ
Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2018/TLST- DS ngày 29 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2018/QĐXXST-DS ngày 28-9-2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2018/QĐST-DS ngày 16-10-2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H Việt Nam (M Bank); địa chỉ: 54A Nguyễn Chí Th, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1989; Địa chỉ chi nhánh: 15 Lê D, quận C, TP. Đà Nẵng theo Giấy ủy quyền số 1384A/2017/UQ-TGĐ13 ngày 19/5/2017 của Tổng giám đốc M Bank và Giấy ủy quyền số 618/2018/UQ-TGĐ13 ngày 28/02/2018 của Giám đốc Khối quan lý khách hàng chiến lược M Bank; có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Ông Dương Đình L; sinh năm 1970 và bà Hà Thị Y, sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ 65(cũ), tổ 75(mới), phường A, quận K, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt tại phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Hải V; Địa chỉ: 210 Bế Văn Đ, quận K, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L1 – Chức vụ: Giám đốc HTX; theo Giấy ủy quyền của Chủ tịch hội đồng quản trị Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Hải V lập ngày 22-5-2018; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các Bản tự khai của Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP H Việt Nam:
Vào ngày 15-7-2009, Ngân hàng TMCP H Việt Nam (M Bank) - chi nhánh Đà Nẵng đã ký hợp đồng tín dụng số 0002/09/ĐN với ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y với các nội dung sau:
Số tiền gốc vay: 180.000.000 đồng
Mục đích vay: Mua ô tô khách
Thời hạn vay: 60 tháng
Lãi suất ban đầu: 10,5%/ năm. Thay đổi 03 tháng / lần bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm thông thường trả lãi sau thời hạn 12 tháng tại M Bank cộng biên độ 4,5%/ năm.
Gốc thanh toán hàng tháng: 3.000.000 đồng / tháng; lãi trả theo thực tế phát sinh vào ngày 26 hàng tháng.
Ngày 15-7-2009, M Bank - chi nhánh Đà Nẵng đã giải ngân cho ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y theo Khế ước nhận nợ số 0002/09/ĐN với số tiền 180.000.000 đồng đúng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y thanh toán nợ nhưng đến nay khoản nợ vẫn chưa được thanh toán.
Dư nợ khoản vay của ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y tại M Bank tạm tính đến ngày 29-01-2018 chi tiết như sau:
Nợ gốc: 120.574.997 đồng
Nợ lãi: 179.755.322 đồng
Nợ lãi quá hạn: 68.150.614 đồng
Tổng cộng: 368.480.933 đồng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay là xe ô tô khách nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 43S-8209, số khung: 5U22116, số máy: HFFA5U22116 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 009144 do Công an TP Đà Nẵng cấp ngày 23-6-2009 được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0002/09/BĐ ngày 15-7-2009. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
M Bank kính đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết các yêu cầu sau:
Một là, buộc ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền 368.480.933 đồng, trong đó nợ gốc là 120.574.997 đồng, nợ lãi 179.755.322 đồng, nợ lãi quá hạn 68.150.614 đồng (tạm tính đến ngày 29-01-2018). Kể từ ngày 30-01-2018, ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y còn tiếp tục phải trả cho M Bank số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi tất toán khoản vay.
Hai là, kể từ ngày bản án/ quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y chưa trả được toàn bộ khoản nợ cho M Bank thì M Bank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp cho khoản vay theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0002/09/BĐ ngày 15-7-2009 là xe ô tô khách nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 43S-8209, số khung: 5U22116, số máy: HFFA5U22116 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 009144 do Công an TP Đà Nẵng cấp ngày 23-6-2009 để thu hồi nợ.
* Theo đơn trình bày của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Hải V:
Ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 43S-8209, bản chính đăng ký ô tô sô 008898 do Phòng CSGT TP Đà Nẵng cấp ngày 23-6-2009 gia nhập HTX Dịch vụ vận tải Hải Vân ngày 17-6-2009.
Theo chủ trương nhà nước tại thời điểm gia nhập, các phương tiện gia nhập phải chuyển tên cho HTX đứng chủ quyền mới được ngành GTVT cấp phép hoạt động kinh doanh vận tải.
HTX chỉ quản lý điều hành hoạt động vận tải, hỗ trợ pháp lý mọi mặt khi xã viên chủ phương tiện có liên quan đến xe 43S-8209. Xã viên chủ phương tiện tự bảo quản, quản lý phương tiện hoạt động theo kế hoạch của HTX tự thu, tự chi và tự chịu trách nhiệm tài chính về kết quả kinh doanh của mình. Hàng tháng xã viên chủ phương tiện có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước thông qua HTX và khoản phí dịch vụ cho HTX. Vào tháng 7-2009, xã viên Dương Đình L và vợ là bà Hà Thị Y liên hệ Ngân hàng H Việt Nam để làm thủ tục vay vốn và dùng chiếc xe 43S-8209 để làm tài sản thế chấp. Do HTX đứng tên chủ sở hữu theo quy định, nên HTX phải hỗ trợ về thủ tục pháp lý để cho xã viên Dương Đình L và vợ là bà Hà Thị Y hoàn thành thủ tục vay vốn với ngân hàng.
Nay HTX được thông báo là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thì HTX có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc Ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP H Việt Nam số tiền là 368.480.933 đồng, trong đó nợ gốc là 120.574.997 đồng, nợ lãi 179.755.322 đồng, nợ lãi quá hạn 68.150.614 đồng (tạm tính đến ngày 29-01-2018), tài sản đảm bảo bị xử lý trong trường hợp bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán và phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Dương Đình L, bà Hà Thị Y và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Hải V đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.
Về nội dung vụ án: Ngày 15-7-2009, Ngân hàng TMCP H Việt Nam ký hợp đồng tín dụng số 0002/09/ĐN với ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y với các nội dung: Số tiền gốc vay: 180.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua ô tô khách; Thời hạn vay: 60 tháng; Lãi suất ban đầu: 10,5%/ năm (có biến động theo thời gian); Gốc thanh toán 3.000.000 đồng / tháng và lãi trả theo thực tế phát sinh vào ngày 26 hàng tháng. Cùng ngày, Ngân hàng TMCP H Việt Nam đã giải ngân cho ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y theo Khế ước nhận nợ số 0002/09/ĐN với số tiền 180.000.000 đồng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay là xe ô tô khách nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 43S-8209, số khung: 5U22116, số máy: HFFA5U22116 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 009144 do Công an TP Đà Nẵng cấp ngày 23-6-2009 được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0002/09/BĐ ngày 15-7-2009. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông L, bà Y thanh toán nhưng đến nay khoản nợ vẫn chưa được thanh toán. Do vậy, Ngân hàng TMCP H Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 29-01-2018 là Nợ gốc: 120.574.997 đồng; Nợ lãi: 179.755.322 đồng; Nợ lãi quá hạn: 68.150.614 đồng; Tổng cộng: 368.480.933 đồng. Kể từ ngày 30-01-2018, ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y còn tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi tất toán khoản vay. Đồng thời, kể từ ngày bản án/ quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y chưa trả được toàn bộ khoản nợ thì M Bank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp cho khoản vay theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô nói trên để thu hồi nợ.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Ngân hàng TMCP H Việt Nam yêu cầu Tòa án buộc ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 399.723.254 đồng; bao gồm: số tiền nợ gốc là 120.574.997 đồng và nợ lãi 200.681.782 đồng, nợ lãi quá hạn 78.466.474 đồng tính đến ngày 06-11-2018. Việc người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện về phần lãi như trên là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
Đối với Bị đơn - ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, xác minh thì được biết ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y không còn cư trú tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 65(cũ), tổ 75(mới), phường A, quận K, thành phố Đà Nẵng và việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng đối với bị đơn không đảm bảo cho bị đơn nhận các thông tin về văn bản cần thông báo. Đồng thời, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Ông Đinh Văn T có đơn yêu cầu Tòa án thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Do vậy, Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y vẫn không có mặt theo thông báo của Toà án, không có ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải và cũng không tham gia phiên toà nên không có ý kiến lưu hồ sơ vụ án.
Về phía Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Hải V xác nhận ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 43S-8209, gia nhập HTX Dịch vụ vận tải Hải Vân ngày 17-6-2009 nên HTX đứng chủ quyền mới được cấp phép hoạt động kinh doanh vận tải. HTX chỉ quản lý điều hành hoạt động vận tải, hỗ trợ pháp lý mọi mặt khi xã viên chủ phương tiện có liên quan đến xe 43S-8209. Nay Ngân hàng Hàng hải Việt Nam khởi kiện ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì HTX đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H Việt Nam thì thấy: Căn cứ "Hợp đồng tín dụng số 0002/09/ĐN" và " Khế ước nhận nợ số 0002/09/ĐN" cùng ngày 15-9-2009 của ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y ký với Ngân hàng TMCP H Việt Nam, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định Ngân hàng TMCP H Việt Nam đã cho ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y vay 180.000.000 đồng với các điều khoản thỏa thuận đã nêu trên. Tính đến ngày 06-11-2018, ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y còn nợ Ngân hàng số tiền là 399.723.254 đồng; bao gồm: số tiền nợ gốc là 120.574.997 đồng và nợ lãi 200.681.782 đồng, nợ lãi quá hạn 78.466.474 đồng. Đây là Hợp đồng tín dụng, có nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên khi ông L, bà Y vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền khởi kiện. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; cần buộc ông L, bà Y phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với số tiền còn nợ như trên cho Ngân hàng theo quy định tại điều 471, khoản 1, khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự 2005 và các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.
Trường hợp ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán thì tài sản đảm bảo cho khoản vay là xe ô tô khách nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 43S-8209 đứng tên chủ xe là Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Hải V được xử lý theo các Điều 299, 303, 307 Bé luËt d©n sù năm 2015 ®Ó ®¶m b¶o thi hµnh ¸n.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn - ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 399.723.254 đồng x 5% ~ 19.986.000 đồng. Chi phí thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng do nguyên đơn yêu cầu nên phải chịu theo quy định.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 180, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ c¸c §iÒu 305, 401, 405, 471 vµ kho¶n 1, kho¶n 5 §iÒu 474 Bé luËt d©n sù 2005; các Điều 299, 303, 307 Bé luËt d©n sù năm 2015; các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện v/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP H Việt Nam đối với ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y.
Buộc ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP H Việt Nam số tiền là 399.723.254 đồng (ba trăm chín mươi chín triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm năm mươi bốn đồng); bao gồm: số tiền nợ gốc là 120.574.997 đồng và nợ lãi 200.681.782 đồng, nợ lãi quá hạn 78.466.474 đồng tính đến ngày 06-11-2018.
Kể từ ngày 07-11-2018, nếu ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y không thực hiện nghĩa vụ của mình thì số tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến ngày thanh toán hết mọi khoản nợ với mức lãi suất theo "Hợp đồng tín dụng số 0002/09/ĐN" và " Khế ước nhận nợ số 0002/09/ĐN" cùng ngày 15-9-2009 của ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y ký với Ngân hàng TMCP H Việt Nam.
Trường hợp ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán thì tài sản đảm bảo cho khoản vay là xe ô tô khách nhãn hiệu Ford, biển kiểm soát 43S-8209, số khung: 5U22116, số máy: HFFA5U22116 theo Giấy đăng ký xe ô tô số 009144 do Công an TP Đà Nẵng cấp ngày 23-6-2009 đứng tên chủ xe là Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Hải V được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0002/09/BĐ ngày 15-7-2009 được xử lý theo các Điều 299, 303, 307 Bé luËt d©n sù năm 2015 ®Ó ®¶m b¶o thi hµnh ¸n.
2. Án phí và chi phí tố tụng khác:
- Án phí Dân sự sơ thẩm: 19.986.000 (mười chín triệu, chín trăm tám mươi sáu nghìn) đồng, ông Dương Đình L và bà Hà Thị Y phải chịu.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H Việt Nam số tiền tạm ứng án phí 9.212.000 (chín triệu, hai trăm mười hai nghìn) đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 008065 ngày 26-3-2018.
- Chi phí thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: 7.290.000 (bảy triệu, hai trăm chín mươi nghìn) đồng, Ngân hàng TMCP H Việt Nam phải chịu, đã nộp đủ.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Mai |