- Tranh chấp gì? án dân sự — "Ông Nguyễn Văn P (Chủ đại lý A) yêu cầu ông Võ Văn Đ, ông Võ Ru Bi trả tiền mua thuốc, thức ăn thủy sản từ việc thỏa thuận mua bán còn nợ."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2018/DS-ST Ngày: 19 - 10 - 2018 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Đức Hưng.
Ông Nguyễn Minh Trọn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2018/TLST-DS, ngày 10 tháng 9 năm 2018, về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2018/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 10 năm 2018; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1962, là Chủ Đại lý thuốc thức ăn thủy sản T (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Cẩm N, sinh năm 1990 (Có mặt).
(Theo hợp đồng ủy quyền lập ngày 30 tháng 7 năm 2018).
Cùng cư trú: K, V, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
+ Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1944 (Có mặt).
+ Ông Võ Ru B, sinh năm 1989 (Có mặt).
Cùng cư trú: Ấp A, V, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/8/2018 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Võ Văn Đ và ông Võ Ru B là khách hàng của Đại lý thuốc thức ăn thủy sản T (Đại lý), được Đại lý đầu tư thuốc và thức ăn thủy sản từ ngày 24/4/2014 đến ngày 29/01/2015, cụ thể như sau: Từ ngày 24/4/2014 đến ngày 20/7/2015 đầu tư với số tổng tiền còn nợ là 64.773.000 đồng; Từ ngày 23/8/2014 đến ngày 29/01/2015 đầu tư với tổng số tiền còn nợ là 91.675.000 đồng. Tổng cộng hai lần, ông Võ Văn Đ và ông Võ Ru B nợ tiền mua bán thuốc thức ăn thủy sản số tiền là 156.448.000 đồng. Nay bà đại diện cho ông Nguyễn Văn P - Chủ Đại lý thức ăn thủy sản T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Văn Đ và ông Võ Ru B trả cho ông Nguyễn Văn P - Chủ Đại lý thuốc thức ăn thủy sản T tổng số tiền còn nợ là 156.448.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Tại biên bản hòa giải ngày 25/9/2018 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, các bị đơn thống nhất trình bày:
Cả hai ông (Võ Văn Đ, Võ Ru B) thừa nhận từ ngày 24/4/2014 đến ngày 29/01/2015 các ông có thực hiện việc mua bán thuốc thức ăn thủy sản với ông Nguyễn Văn P là Chủ Đại lý thuốc thức ăn thủy sản T. Hiện tại cả hai còn nợ Đại lý số tiền là 156.448.000 đồng. Nay các ông đồng ý trả cho ông Nguyễn Văn P là Chủ Đại lý thuốc thức ăn thủy sản T số tiền mua bán còn nợ là 156.448.000 đồng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế của các ông đang gặp khó khăn nên các ông yêu cầu được thỏa thuận thương lượng với ông Nguyễn Văn P là Chủ Đại lý thuốc thức ăn thủy sản T về hình thức và thời gian thanh toán số nợ trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn P khởi kiện yêu cầu các ông Võ Văn Đ, Võ Ru B trả tiền mua thuốc và thức ăn thủy sản. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm. Việc Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự thủ tục tố tụng.
[2]. Về nội dung khởi kiện: Tại phiên tòa, bà Nguyễn Cẩm N là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn P trình bày quá trình mua bán thuốc và thức ăn thủy sản ông Võ Văn Đ và ông Võ Ru B còn nợ ông Nguyễn Văn P tổng số tiền là 156.448.000 đồng. Vì vậy, yêu cầu ông Võ Văn Đ và ông Võ Ru B phải trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền còn nợ là 156.448.000 đồng.
Quá trình hòa giải và tại phiên tòa, các ông Võ Văn Đ và Võ Ru B thừa nhận có giao dịch mua bán thuốc và thức ăn thủy sản với Đại lý, cụ thể còn nợ ông Nguyễn Văn P số tiền 156.448.000 đồng, đồng ý trả toàn bộ số tiền còn nợ. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế của các ông đang gặp khó khăn nên các ông yêu cầu được thỏa thuận thương lượng với ông Nguyễn Văn P về thỏa thuận hình thức thanh toán và thời gian thanh toán.
Phía ông Nguyễn Văn P không đồng ý việc thỏa thuận về hình thức thanh toán và thời gian thanh toán do tiền nợ thiếu đã lâu mà phía các ông Võ Văn Đ, Võ Văn B không có thiện chí trả nợ.
Theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định các ông Võ Văn Đ, Võ Ru B mua thuốc, thức ăn thủy sản còn nợ ông Nguyễn Văn P số tiền 156.448.000 đồng. Cụ thể qua các biên nhận, quá trình hòa giải và tại phiên tòa các ông thừa nhận còn nợ, tuy nhiên do không thỏa thuận được hình thức và thời gian thanh toán nợ nên ông Nguyễn Văn P yêu cầu đưa vụ án ra xét xử. Do đó, có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P về việc yêu cầu các ông Võ Văn Đ, Võ Ru B trả số tiền còn nợ là 156.448.000 đồng.
[3]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn P không phải chịu án phí, các ông Võ Văn Đ, Võ Ru B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 7.822.400 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 430, 440 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn P.
Buộc ông Võ Văn Đ và ông Võ Văn B có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền 156.448.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
- Buộc ông Võ Văn Đ và ông Võ Ru B phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 7.822.400 đồng (Bảy triệu tám trăm hai mươi hai nghìn bốn trăm đồng).
- Ông Nguyễn Văn P được nhận lại số tiền 3.911.000 đồng (Ba triệu chín trăm mười một nghìn đồng) đã nộp tạm ứng tại Biên lai thu số 0007258 ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (do bà Nguyễn Cẩm N là người nộp).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Phước |