- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn L (tức Đại) phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2017/HSST Ngày 15/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giới
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bẩy
2. Bà Tô Thị Bích Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Ông Trần Đức Duyện - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2017/HSST ngày 05/9/2017, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Đặng Văn L - Tên gọi khác: Đặng Văn Đ.
- Sinh ngày 19/5/1968, tại thị xã Đ, tỉnh Q.
- Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn T, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Q.
- Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hoá: 7/10 - Nghề nghiệp: Không.
- Họ và tên bố: Đặng Văn R - Sinh năm: 1931 (Đã chết).
- Họ và tên mẹ: Trần Thị V – Sinh năm: 1938 (Đã chết).
- Anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ tư.
- Vợ: Bùi Thị C – Sinh năm: 1969.
- Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1996.
- Tiền án: Năm 2010, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 07 (Bẩy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tháng 9/2015 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. – Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 13/6/2017, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, nên khoảng khoảng 12h ngày 13/6/2017, Đặng Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suntan biển kiểm soát 14P5 - 2803 từ nhà đi đến khu vực xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Tại đây, L gặp và mua của một người đàn ông khoảng 35 tuổi (không rõ lai lịch, địa chỉ) 04 (Bốn) gói bằng giấy bên trong chứa ma túy loại Heroine, với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, L cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi L về đến khu vực cổng Trường tiểu học Yên Thọ thuộc thôn Yên Trung, xã Yên Thọ, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an thị xã Đông Triều kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ trên người L gồm: Trong túi áo ngực bên trái 04 (Bốn) gói giấy chứa chất bột màu trắng; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Suntan biển kiểm soát 14P5 – 2803; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Nokia 107.
Tại bản Kết luận giám định số 397/GĐMT ngày 15/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng trong 04 (Bốn) gói giấy gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, tổng trọng lượng 0,41g (Không phẩy bốn mươi mốt gam).
(Heroine nằm trong danh mục I, STT: 20 Nghị định 82/NĐ – CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.)
Quá trình điều tra, Đặng Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 50/KSĐT - HS ngày 01/9/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố Đặng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 - điều 194 – Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bản thân bị cáo Đặng Văn L đã bị kết án 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng L vẫn tìm mua ma túy để sử dụng, sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu trong người thì bị bắt quả tang, kết quả giám định là Heroine có trọng lượng 0,41g (không phẩy bốn mươi mốt gam). Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 - Điều 194; Điểm g – khoản 1 – Điều 48; Điểm p,s - khoản 1 - Điều 46 - Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 – điều 7; Khoản 1 – Điều 249 – Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt: Đặng Văn L từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng điểm c - khoản 1 - điều 41 – Bộ luật hình sự, điểm a - khoản 2 - Điều 76 – Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,35g (Không phẩy ba mươi năm gam) Heroine hoàn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 397/GĐMT, trả lại bị cáo 01 điện thoại Nokia 107 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đặng Văn L thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn L có lời khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo thể hiện:
Khoảng 13h 45’ ngày 13/6/2017, tại cổng Trường tiểu học Yên Thọ, thuộc thôn Yên Trung, xã Yên Thọ, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Đặng Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 04 (Bốn) gói ma túy loại Heroine, có trọng lượng 0,41g (Không phẩy bốn mươi mốt gam), mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Người làm chứng là các anh Nguyễn Văn L và Trần Hữu T có lời khai phù hợp lời khai của bị cáo về việc bắt quả tang bị cáo cùng tang vật và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.
Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp kết quả điều tra; Phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận bản luận tội của Kiểm sát viên là đúng, không tranh luận gì. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đặng Văn L phạm tội: "Tàng tr trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1- Điều 194 - Bộ luật hình sự.
Điều 194 - Bộ luật hình sự quy định:
..."1. Ngư i nào tàng tr , vận chuy n, mua bán trái phép ho c chiếm đoạt chất ma túy, th bị phạt t t hai năm đến bảy năm.” ...
Về khách thể, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền nhà nước về quản lý các chất gây nghiện là khách thể quan trọng luôn được pháp luật đề cao và bảo hộ.
Về chủ thể, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm pháp luật.
Về mặt chủ quan, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Về mặt khách quan, bị cáo đã cất giấu trái phép 0,41g (Không phẩy bốn mươi mốt gam) ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Như chúng ta đã biết ma túy là nguyên nhân làm lây lan đại dịch HIV/AID, là nguyên nhân phát sinh và gia tăng nhiều loại tội phạm, nhà nước và cộng đồng đang nỗ lực tìm mọi biện pháp ngăn chặn, nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn, nguy hiểm cho xã hội, tiếp tay cho tội phạm về ma túy. Nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo khỏi cộng đồng một thời gian để giáo dục cải tạo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao công tác phòng chống tội phạm.
Xét nhân thân, bị cáo đã có một tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vừa chấp hành án xong trở về địa phương lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự khó tiếp thu giáo dục và cải tạo nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g – khoản 1 – Điều 48 – Bộ luật Hình sự, cần xử phạt nghiêm. Tuy nhiên cũng xét, quá trình khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Mặt khác bị cáo đã từng tham gia Quân đội, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương và Huy chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm p, s - khoản 1 - Điều 46 - Bộ luật hình sự. Mặt khác, theo khoản 3 – Điều 7 – Bộ luật Hình sự 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định về việc thi hành Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13, áp dụng các tình tiết có lợi cho người phạm tội trước khi Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực thi hành. Đồng thời điều 249 – Bộ luật hình sự 2015 quy định:
“1. ngư i nào tàng tr trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuy n, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trư ng hợp sau đây th bị phạt t t 01 năm đến 05 năm:
....
c) Hêrôin, Coocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng t 0,1gam đến dưới 05gam.”
Nên giảm nhẹ một phần hình phạt, để bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật mà cải tạo cho tốt.
Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về vật chứng của vụ án: 0,35g (không phẩy ba năm gam) chất ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định, tịch thu tiêu hủy. 01 (Một) điện thoại hiệu Nokia 107 thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho L, quá trình điều tra chưa xác định được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Đông Triều tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Suntan biển kiểm soát 14P5 – 2803, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của bà Bùi Thị C, sinh năm 1968, trú tại thôn T, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Q cho L mượn, nhưng không biết L sử dụng xe để đi mua ma túy; Ngày 11/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe cùng giấy tờ cho bà C, nay không xét đến.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn L (tức Đại) phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 - Điều 194; Điểm g – khoản 1 – Điều 48; Điểm p,s - khoản 1 - Điều 46 – Bộ luật hình sự 1999; Khoản 3 – Điều 7; Khoản 1 – Điều 249 – Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn L 24 (Hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13/6/2017.
Áp dụng: - Điểm c - khoản 1 - Điều 41 – Bộ luật hình sự;
- Điểm a - khoản 2 - Điều 76 – Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,35g (Không phẩy ba mươi năm gam) chất Heroine hoàn lại sau giám định, trong 01 (một) phong bì số 397/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Q.
Trả lại Đặng Văn L 01 (Một) điện thoại hiệu Nokia 107, màu đen đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 49 ngày 01/9/2017 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Đ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đ. )
Căn cứ : - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu , miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Điều 99 - Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc Đặng Văn L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - Công an thị xã Đông Triều; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; - Bị cáo; - STP tỉnh Quảng Ninh; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Văn Giới |