vanban.org

Bản án 42/2017/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Hiếp dâm”.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 592 Bộ luật dân sự . Xử: Buộc bị cáo Trần Văn Q bồi thường cho bà Mai Thị Mỹ H tổng số tiền là 7.000.000 đ (Bảy triệu đông). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hiếp dâm - phạm tội hiếp dâm (điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Hiếp dâm”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 592 Bộ luật Dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYEÄN TAÂN HIEÄP
TÆNH KIEÂN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------------
Bản án số: 42/2017/HSST
Ngày: 29/09/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Thuấn

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lệ Hoa

2. Ông Đinh Khắc Việt

Thö kyù Toøa aùn ghi bieân baûn phieân toaø: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni - Caùn boä Toaø aùn nhaân daân huyeän Taân Hieäp, tænh Kieân Giang.

Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Taân Hieäp, tænh Kieân Giang tham gia phieân toøa: OÂng Trần Chí Thức – Kieåm saùt vieân.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 43/2017/TLST- HS ngày 22 tháng 8 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2017/QĐ ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Văn Q, sinh năm 1973 tại Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; Nơi ĐKTT: Tổ Z, ấp T, xã H, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; CMND/số hộ chiếu, số căn cước công dân: xxxxxxxx; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa không biết chữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn D và bà Võ Thị L, Vợ: Nguyễn Thị H; con 02 người, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2017 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

+ Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q: Trợ giúp viên Trần Hữu P, sinh năm

1954 thuộc đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang

Có mặt

+ Người bị hại: Mai Thị Mỹ H, sinh năm 1945

Nơi cứ trú: ấp T, xã H, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Có mặt

+ Người làm chứng:

Lê Thị L , sinh năm 1982

Nơi cứ trú: ấp K, xã M, huyện Hòn Đất, Kiên Giang

Có mặt

NHAÄN THAÁY

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 16/6/2017 sau khi đi uống rượu tại nhà của anh Trần Văn T thì Trần Văn Q được anh Tô Minh T chở về nhà ngụ ấp T, xã H, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang và lên võng nằm ngủ, đến khoảng 01 giờ ngày 17/6/2017 thì Q thức dậy và đi xuống sông trước nhà để tắm rồi đi lên nhà, lúc này Q nảy sinh ý định đi sang nhà để hiếp dâm bà Mai Thị Mỹ H vì biết bà H ở một mình, thực hiện ý định nên Q đi sang nhà bà H đến cửa nhà sau đưa tay vào lổ ngay cửa để tháo cây gài cửa phía trong, Q kéo cửa sau và dùng cây chống cửa lên để đi vào nhà, khi vào nhà Q thấy bóng đèn ngủ đang được bật, sợ bà H phát hiện nên Q đi đến tắt cầu giao điện trong nhà, sau đó đến chui vào mùng của bà H, lúc này bà H phát hiện có người lạ nên truy hô nhưng bị Q dùng tay bịt miệng, đồng thời nằm đè lên người bà H, dùng tay còn lại và hai chân khống chế bà H, bà H ra sức chống cự được một lúc thì bị kiệt sức, lúc này bà H sờ trúng đầu và tay của Q phát hiện đầu trọc và mất hai đốt ngón tay giữa nên biết là Q nên bà H có nói “Tha cho cô tư đi”, nhưng lúc này Q không dừng lại mà tiếp tục khống chế bà H và dùng tay đẩy áo lên đến cổ và tụt quần bà H ra khỏi người, lúc này Q tự cởi quần và dùng tay cầm dương vật đưa vào âm đạo của bà H để thực hiện hành vi giao cấu được khoảng 10 phút thì nghỉ, sau đó bà H và Q tự mặc quần áo vào, bà H kêu Q đi về nhà, Q có dặn bà H là “chuyện này không được la làng lên cho ai biết nghe cô tư”, bà H giả vờ đồng ý mở cửa cho Q đi về nhà, thấy Q đi về nhà nên bà H nhanh chóng chạy sang nhà của chị Lê Thị L cách nhà bà H khoảng 100 mét thuộc ấp K, xã M, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang để kể cho chị L nghe việc bị Q hiếp dâm và có nhờ chị L sang nhà để kiếm dùm chiếc bông tai bị mất lúc bị Q hiếp dâm. Khi chị L sang nhà và kiếm được chiếc bông tai của bà H và bà H đang lấy đồ để sang nhà chị L ngủ nhờ thì Q tiếp tục sang nhà bà H gọi “cô tư ơi cô tư”, thấy trong nhà có người nên Q có hỏi “thiếm út hả” không thấy trả lời nên Q bỏ đi về nhà. Đến sáng ngày 17/6/2017 thì bà H đi trình báo sự việc đến chính quyền địa phương.

* Kết luận giám định pháp y về tình dục số 362/KL-PY ngày 27/6/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Kiên Giang kết luận giám định về tình dục đối với Mai Thị Mỹ H, sinh năm 1945, kết luận:

- Màng trinh đã mòn, không còn dấu tích màng trinh ở người phụ nữ sinh đẻ nhiều.

- Các vết trầy sướt ở âm hộ, âm đạo và cổ tử cung. Chứng tỏ có vật cứng có đường kính từ 2,5 cm trở lên đưa từ ngoài vào âm đạo, thời điểm phù hợp với thời gian xảy ra vụ việc.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 cái mũ (nón kết) bằng vải, phần trên màu tím, phần dưới màu đen, viền trong mũ màu trắng, ở ngay giữa đỉnh mũ bị rách một lôc nhỏ, chỗ tiếp giáp giữa phần trước và thân mũ phía bên phải bị rách, tình trạng mũ đã qua sử dụng.

- 01 cái áo ngắn tay bằng vải thun, màu xám.

- 01 quần dài bằng vải thun màu xám.

- 01 quần lót nữ màu hồng.

Bản Cáo trạng số 40/CT – VKS ngày 22/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 111 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/6/2017, tại nhà bà Mai Thị Mỹ H ngụ ấp T, xã H, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, Trần Văn Q lợi dụng việc bà Hoa ở nhà một mình nên đã thực hiện hành vi dùng vũ lực để hiếp dâm bà Mai Thị Mỹ H. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn Q về tội “Hiếp dâm”. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thật thà, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 111, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm h khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại tại phiên tòa

Về xử lý vật chứng: Đề nghị hội đồng xét tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm 01 cái mũ (nón kết) bằng vải, phần trên màu tím, phần dưới màu đen, viền trong mũ màu trắng, ở ngay giữa đỉnh mũ bị rách một lôc nhỏ, chỗ tiếp giáp giữa phần trước và thân mũ phía bên phải bị rách, tình trạng mũ đã qua sử dụng, 01 cái áo ngắn tay bằng vải thun, màu xám, 01 quần dài bằng vải thun màu xám, 01 quần lót nữ màu hồng.

Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền thuốc và chi phí cho tiền xe đi lại khám bệnh với số tiền là 2.000.000 đ và bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000 đ

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường khoản tiền thuốc và tiền xe đi lại khám bệnh là 2.000.000 đ và bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000 đ theo yêu cầu người bị hại

Lời bào chữa của luật sự : Thống nhất về tội danh, điều khoản, truy tố và tình tiết giảm nhẹ của vị đại diện Viện kiểm sát, đồng thời đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm h khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự và bị cáo có nhân thân tốt mới phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn là thuộc hộ nghèo, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong quá trình bị tạm giam bị cáo nhận thấy hối hận và xấu hổ với hành vi của bị cáo, mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

XEÙT THAÁY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Hiệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị hại không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, lời khai người bị hại, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Vào 01h ngày 17/6/2017 sau khi đi xuống sông tắm, lúc đi trở vào nhà bị cáo nhớ lại bà Mai Thị Mỹ H ở một mình nên nảy sinh ý định hiếp dâm, thực hiện ý định bị cáo Q lén lút đột nhập vào nhà bà H và đi đến tắt cầu giao điện trong nhà, sau đó chui vào mùng của bà H, lúc này bà H phát hiện có người lạ nên truy hô nhưng bị Q dùng tay bịt miệng, đồng thời nằm đè lên người bà H, dùng tay còn lại và hai chân khống chế bà H, bà H ra sức chống cự được một lúc thì bị kiệt sức, lúc này bà H sờ trúng đầu và tay của Q phát hiện đầu trọc và mất hai đốt ngón tay giữa nên biết là Q nên bà H có nói “Tha cho cô tư đi”, nhưng lúc này Q không dừng lại mà tiếp tục khống chế bà H và dùng tay đẩy áo lên đến cổ và tụt quần bà H ra khỏi người, lúc này Q tự cởi quần và dùng tay cầm dương vật đưa vào âm đạo của bà H để thực hiện hành vi hiếp dâm được khoảng 10 phút thỏa mãn. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Hiếp dâm”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật hình sự.

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 111 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Xét vÒ tÝnh chÊt vµ møc ®é hành vi phạm tội của bị cáo là rÊt nguy hiểm cho xã hội; g©y bÊt b×nh trong d luËn quÇn chóng nh©n d©n vµ còn lµm ảnh hưởng đến t×nh h×nh an ninh trật tự ë địa phương. Trong vụ án này, qua thẩm vấn công khai tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra cho thấy bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức ® îc hµnh vi cña m×nh, thÕ nh ng v× dôc väng b¶n th©n lîi dông lúc bị hại ở nhà một mình kh«ng thÓ tù vÖ được bản thân, bÞ c¸o dïng vò lùc nhằm thực hiện hành vi giao cÊu tr¸i ý muèn víi bÞ h¹i, ¶nh h ëng nghiªm träng ®Õn nh©n phÈm, danh dù vµ søc kháe cña bÞ h¹i, Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm là cần thiết, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị hại sinh năm 1945 do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là phạm tội đối với người già được quy định tại điểm h khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự.

[5] Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Sau khi phạm tội bị cáo đã thật thà, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi sai trái của mình, bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

[7] Xét đề nghị của kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự là phù hợp pháp luật

[08] Xét lời bào chữa của luật sư: Hội đồng xét xử thống nhất quan điêm của luật sư bào chữa cho bị cáo, tuy nhiên đề nghị cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự là không có cơ ở chấp nhận.

[09] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo bồi thường tiền thuốc điều trị bệnh và tiền xe đi lại là 2.000.000đ và tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000đ.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối 01 cái mũ (nón kết) bằng vải, phần trên màu tím, phần dưới màu đen, viền trong mũ màu trắng, ở ngay giữa đỉnh mũ bị rách một lôc nhỏ, chỗ tiếp giáp giữa phần trước và thân mũ phía bên phải bị rách, tình trạng mũ đã qua sử dụng, 01 cái áo ngắn tay bằng vải thun, màu xám, 01 quần dài bằng vải thun màu xám, 01 quần lót nữ màu hồng, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật là 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Hiếp dâm”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 111; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm h khoản 1 Điêu 48 Điều 33 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn Q 02 năm 06 tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2017.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 592 Bộ luật dân sự .

Xử: Buộc bị cáo Trần Văn Q bồi thường cho bà Mai Thị Mỹ H tổng số tiền là 7.000.000 đ (Bảy triệu đông).

- Về xử lý vật chứng áp dụng điểm đ khoản 2 khoản điều 76 BLTTHS:

Xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái mũ (nón kết) bằng vải, phần trên màu tím, phần dưới màu đen, viền trong mũ màu trắng, ở ngay giữa đỉnh mũ bị rách một lôc nhỏ, chỗ tiếp giáp giữa phần trước và thân mũ phía bên phải bị rách, tình trạng mũ đã qua sử dụng, 01 (một) cái áo ngắn tay bằng vải thun, màu xám, 01 (một) quần dài bằng vải thun màu xám, 01 (một) quần lót nữ màu hồng không còn giá trị sử

dụng.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số 22/KSĐT ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Buộc bị cáo Trân Văn Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ