vanban.org

Bản án 42/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Lại Thị L và anh Hứa Văn K.

Về con chung: Giao chị Lại Thị L trực tiếp nuôi hai con chung là Hứa Thu H - Sinh ngày 29/7/2002 và Hứa Văn N - Sinh ngày 05/3/2005 cho đến khi trưởng thành có khả năng lao động tự lập được. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L nhưng anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Lại Thj L và Hứa Văn K"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Lại Thị L và anh Hứa Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THUỶ
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2017/HNGĐ - ST
Ngày: 28 - 12 - 2017
V/v: Ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Hùng Hạnh.

Ông Đoàn Trung Tuyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:146/2017/TLST-HNGĐ ngày 21/11/2017 về tranh chấp: “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2017/QĐXXST - HNGĐ ngày 07/12/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lại Thị L - Sinh năm 1984.

Địa chỉ: Xóm L, xã G, huyện G, tỉnh N.

Bị đơn: Anh Hứa Văn K - Sinh năm 1980.

Nơi cư trú cuối cùng: Xóm L, xã G, huyện G, tỉnh N. Anh K bị Tòa án nhân dân huyện Giao thủy, tuyên bố mất tích theo quyết định số: 11/2017/QĐDS - ST ngày 25/9/2017.

Tại phiên tòa: Chị L có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24/10/2017, bản tự khai ngày 29/11/2017 và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lại Thị L trình bày: Chị và anh Hứa Văn K qua sự tìm hiểu được một thời gian thì tự nguyện đi đến kết hôn. Được UBND xã Giao P cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/3/2002. Sau cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh K nghiện hút ma túy và đã bỏ nhà đi từ năm 2010 cho đến nay không rõ địa chỉ. Chị đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy tuyên bố anh Hứa Văn K mất tích. Tòa án nhân huyện Giao Thủy đã ra quyết định số 11/2017/QĐDS - ST ngày 25/9/2017 tuyên bố anh Hứa Văn K mất tích. Kể từ ngày Tòa án ra quyết định anh K cũng không có tin tức gì. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh K đã mất tích nên không thể đoàn tụ vợ chồng được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hứa Văn K .

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Hứa Thu H - Sinh ngày 29/7/2002 và Hứa Văn N - Sinh ngày 05/3/2005. Hiện nay 02 con chị đang nuôi dưỡng, ly hôn chị L nhận tiếp tục nuôi 02 con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản:Tài sản riêng, tài sản chung, công nợ, ruộng nhận khoán của HTX: Vợ chồng không có nên chị là không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản xác minh ngày 04/12/2017 bà Nguyễn Thị C là mẹ đẻ anh K có ý kiến như sau: Anh Hứa Văn K bỏ nhà đi mất tích từ khoảng năm 2010 cho đến nay, gia đình bà cũng không biết hiện nay anh K đang làm gì và ở đâu. Nay chị L xin ly hôn anh K bà hoàn toàn nhất trí.Chính quyền địa phương xã Giao P cung cấp: Việc anh K bỏ đi từ năm 2010 đến nay, hiện nay địa phương cũng không biết tin tức gì của anh K.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh K là hợp pháp, quá trình chung sống do phát sinh mâu nên anh K đã bỏ đi và Tòa án đã tuyên bố anh K mất tích, nên có đủ cơ sở để giải quyết ly hôn. Về 02 con chung hiện chị L đang nuôi dưỡng, anh K bỏ đi mất tích, vì vậy nên giao 02 con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và lời khai của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân giữa chị Lại Thị L và anh Hứa Văn K là tự nguyện, có đủ các điều kiện theo luật định là hôn nhân hợp pháp. Sau cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh K nghiện ma túy và đã bỏ gia đình đi từ năm 2010 cho đến nay không có tin tức gì.Tại quyết định số: 11/2017/QĐDS - ST ngày 25/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy đã tuyên bố anh Hứa Văn K mất tích. Nay chị L xin ly hôn anh K. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh K không thể tồn tại kéo dài được vì anh K đã bỏ đi mất tích, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh K đã mất tích do vậy giao 02 con chung là: Hứa Thu H - Sinh ngày 29/7/2002 và Hứa Văn N - Sinh ngày 05/3/2005 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, về cấp dưỡng chị L không yêu cầu nên anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Khi nào anh K có địa chỉ nơi cư trú cụ thể và có đơn yêu cầu, Tòa án sẽ điều chỉnh về con chung bằng vụ án khác.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ, ruộng khoán HTX: Vợ chồng không có và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên HĐXX không xem xét điều chỉnh.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81,82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Xử ly hôn giữa chị Lại Thị L và anh Hứa Văn K.

2.Về con chung: Giao chị Lại Thị L trực tiếp nuôi hai con chung là Hứa Thu H - Sinh ngày 29/7/2002 và Hứa Văn N - Sinh ngày 05/3/2005 cho đến khi trưởng thành có khả năng lao động tự lập được. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L nhưng anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Lại Thị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp theo biên lai thu số 007718 ngày 21/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy nay được chuyển thành án phí.

4.Về quyền kháng cáo: Chị Lại Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Hứa Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ