- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Ông Phạm Anh T ; Ông Nguyễn Văn T1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Anh T ; sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| \TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 419/2019/DS-PT Ngày 18-9-2019 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Huynh
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Phan Đức Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Chí Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 284/2019/TLPT-DS ngày 23 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2019/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1754/2019/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Anh T , sinh năm 1982 (có mặt);
Địa chỉ: xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968;
Địa chỉ: xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Hòa T2, sinh năm 1984
Địa chỉ: xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lạc Thị T3, sinh năm 1962;
Địa chỉ: xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
2. Ông Nguyễn Minh S , sinh năm 1990;
Địa chỉ: xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T3, ông S : Ông Võ Hòa T2, sinh năm 1984. Địa chỉ: xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (có mặt).
3. Văn Phòng Công Chứng P ;
Địa chỉ: thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).
4. Văn phòng Đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An;
Địa chỉ: thành phố Tân An, tỉnh Long An (có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phạm Anh T .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Anh T , do bà Phạm Thị L đại diện trình bày:
Trước đây, ông Phạm Anh T và ông Nguyễn Văn T1 có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T có khởi kiện ông T1 tại Tòa án nhân dân huyện Bến Lức và đã được giải quyết bằng Bản án số 60/2016/DS-ST ngày 09/12/2016. Do không đồng ý với kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức nên ông T đã kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét lại. Sau đó vụ án được giải quyết bằng Bản án số 132/2017/DS-PT ngày 15/6/2017, theo đó ông T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho ông T số tiền 346.217.500 đồng và 9.100.000 đồng tiền đo đạc định giá. Nhưng sau khi án có hiệu lực thì không thi hành án được. Lý do là số tiền vợ chồng ông T1, bà T3 gửi trong ngân hàng đã được ông bà rút ra, tài sản cuối cùng của ông bà là quyền sử dụng đất thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17 tại xã Nhựt Chánh đã được ông bà chuyển quyền sử dụng cho con trai ruột là ông Nguyễn Minh S vào ngày 03/5/2017.
Việc ông T1 bà T3 rút tiền ngân hàng và chuyển quyền sử dụng đất cho con trai là nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả tiền cho ông T . Hợp đồng tặng cho tài sản giữa ông Nguyễn Văn T1, bà Lạc Thị T3 với ông Nguyễn Minh S là hợp đồng giả cách, lợi dụng việc bản án có kháng cáo để tẩu tán tất cả tài sản, trốn tránh trách nhiệm trả nợ nên ông T khởi kiện ông T1 để yêu cầu Tòa án giải quyết:
Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Lạc Thị T3 với ông Nguyễn Minh S được Văn phòng công chứng P công chứng số 3643, quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/5/2017 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An vô hiệu.
Hủy phần nội dung chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T1 sang ông Nguyễn Minh S đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Bến Lức chỉnh lý sang tên ngày 18/5/2017.
Ông Võ Hòa T2 đại diện cho bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Lạc Thị T3 với ông Nguyễn Minh S được Văn phòng công chứng P công chứng số 3643, quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/5/2017 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An là hợp pháp, đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, không ảnh hưởng đến nghĩa vụ thi hành án.
Tại thời điểm tặng cho tài sản, ông S , ông T1, bà T3 chưa có bất kì nghĩa vụ phải thi hành án về tài sản đối với ai. Thời điểm tặng thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2 cho ông S , thì Bản án số 60/2016/DS-ST ngày 09/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức chưa có hiệu lực pháp luật. Do không đồng ý với kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức nên ông T đã kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét lại. Sau đó, vụ án được giải quyết bằng Bản án số 132/2017/DS-ST ngày 15/6/2017.
Sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất, ông S được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Bến Lức chỉnh lý sang tên ngày 18/5/2017. Vì ông S chưa lập gia đình nên còn sống chung với ông T1, bà T3 trên phần đất này.
Trong phần đất này, vợ chồng ông T1, bà T3 không tặng cho riêng một mình ông S mà con tặng cho một số người con khác của vợ chồng ông T1. Việc vợ chồng ông T1 cho đất các con để nhằm mục đích chia tài sản cho các con, tránh sự xung đột, mâu thuẫn trong gia đình. Nên trước yêu cầu của ông T , ông T2 là người đại diện cho ông T1 không chấp nhận yêu cầu.
Ông Võ Hòa T2 đồng thời là đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lạc Thị T3, ông Nguyễn Minh S thống nhất với lời trình bày nêu trên, không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng P có văn bản ngày 02/11/2017 trình bày:
Vào ngày 03/5/2017, ông Nguyễn Văn T1, bà Lạc Thị T3 và ông Nguyễn Minh S đến Văn phòng Công chứng P yêu cầu công chứng việc ông T1, bà T3 tặng cho con là Nguyễn Minh S quyền sử dụng đất. Sau khi tiếp nhận hồ sơ của ông T1, bà T3, công chứng viên kiểm tra các tài liệu, giấy tờ có liên quan, việc yêu cầu công chứng là do hai bên hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên công chứng viên tiến hành soạn thảo hợp đồng và lời chứng số 3643, quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/5/2017 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Như vậy, việc công chứng đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông T1, bà T3 với ông S , Văn phòng Công chứng P đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án các cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An trình bày:
Ông Nguyễn Văn T1 được Uỷ ban nhân dân huyện Bến Lức cấp giấy CNQSD đất số BP 655497 ngày 10/01/2014 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 03/5/2017, ông T và vợ là bà Lạc Thị T3 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên cho con ruột là ông Nguyễn Minh S , được Văn phòng Công chứng P công chứng số 3643, quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/5/2017. Trên cơ sở đó, ngày 18/5/2017, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Bến Lức thực hiện chỉnh lý sang tên trên giấy CNQQSD đất từ ông T1 sang ông S là đúng quy định của pháp luật về đất đai. Vì vậy, việc ông T yêu cầu hủy giấy CNQSD đất của ông S đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại Bến Lức chỉnh lý sang tên ngày 18/5/2017 là không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu này của ông T . Đồng thời, Văn phòng Đăng ký đất đai xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án các cấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2019/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 459 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, quy định về án phí và lệ phí tòa án; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ông Phạm Anh T về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy phần nội dung chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T1 sang ông Nguyễn Minh S .
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí sơ thẩm; phần thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 2/4/2019, nguyên đơn ông Phạm Anh T kháng cáo bản án sơ thẩm. Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Anh T .
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Phạm Anh T trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T1 sang ông Nguyễn Minh S . Hủy chỉnh lý biến động thửa 37 tờ bản đồ số 17, xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã cấp cho Nguyễn Văn T1 sang Nguyễn Minh S , với lý do việc vợ chồng ông T1 tặng cho ông S quyền sử dụng đất là giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông T .
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông T1, bà T3 với ông S là hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Anh T .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu như sau:
- Việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét thấy việc ông T1 lập hợp đồng tặng cho con là ông Nguyễn Minh S thửa đất số 37 diện tích 694,4m2 tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An là hợp đồng có nội dung trái pháp luật, nhằm mục đích tẩu tán tài sản, né tránh trách nhiệm thi hành án. Do đó hợp đồng tặng cho giữa ông T1, bà T3 với ông S phải bị vô hiệu theo Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của ông T , hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông T1, bà T3 với ông S ; hủy phần nội dung chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nguyễn Văn T1 sang Nguyễn Minh S .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo, nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí của đương sự đã thực hiện đúng theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Tại phiên toà phúc thẩm, có một số đương sự vắng mặt nhưng các
đương sự nà y đã đượ c Toà á n triệ u tậ p hợ p lệ đế n lầ n thứ 2 hoặ c đã có văn bản uỷ quyền cho người khác có mặt tham gia phiên toà hoặc có đơn xin xét xử vắ ng mặ t, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Giữa ông Phạm Anh T và ông Nguyễn Văn T1 có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xét xử tại Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2016/DS-ST ngày 09/12/2016 và Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử tại Bản án dân sự phúc thẩm số 132/2017/DS-PT ngày 15/6/2017, theo đó ông Nguyễn Văn T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Phạm Anh T số tiền 346.217.500 đồng và 9.100.000 đồng tiền đo đạc, định giá.
Xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm và đang trong thời gian chờ Toà á n nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án nêu trên thì vào ngày 03/5/2017 vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Lạc Thị T3 ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2 tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cho con trai của ông T1, bà T3 là ông Nguyễn Minh S , nhưng thực tế từ đó đến nay ông T1, bà T3 vẫn cư ngụ trên khu đất này.
Theo trình bày của ông Võ Hòa T2 là đại diện theo uỷ quyền của ông T1 thì căn nhà 300m2 trên khu đất này vẫn thuộc quyền sở hữu của ông T1, bà T3 vì chưa bán cho ông S . Uỷ ban nhân dân xã Nhật Chánh xác nhận ngoài khu đất gia đình ông T1, bà T3 đang cư ngụ (đã chuyển nhượng cho ông S ) thì ông T1 không còn khu đất nào khác trong địa bàn xã Nhật Chánh. Theo Biên bản xác minh của Chi cục Thi hành án huyện Bến Lức có nội dung ngoài khu đất tặng cho nêu trên thì ông T1, bà T3 không còn khu tài sản nào khác để thi hành án.
Như vậy, đủ căn cứ xác định hành vi của ông Nguyễn Văn T1 tặng cho khu đất 694,4m2 cho con trai của mình là ông Nguyễn Minh S nêu trên là nhằm tẩu tán tài sản thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba. Bởi lẽ, trước khi lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông S thì ông T1, bà T3 chỉ con duy nhất tài sản là căn nhà 300m2 trên khu đất diện tích 694,4m2 toạ lạc tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Trong khi đó ông T1, bà T3 đang bị bản án sơ thẩm tuyên phải trả nợ cho ông Phạm Anh T . Tuy bản án sơ thẩm này bị kháng cáo, nhưng người kháng cáo là ông T chứ không phải là ông T1. Hơn nữa, ông T1, bà T3 chỉ làm thủ tục tặng cho khu đất cho ông S chứ không chuyển quyền sở hữu căn nhà trên đất và vẫn cư trú trên đất này đến nay, chứ không có việc giao đất cho ông S . Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Anh T về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy phần nội dung chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T1, bà Lạc Thị T3 sang tên cho ông Nguyễn Minh S là không đúng, làm thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của ông T .
Đối với ông Nguyễn Minh S là người được tặng cho tài sản, ông S không phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong giao dịch này. Do đó, để đảm bảo theo lẽ công bằng thì việc không công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông T1, bà T3với ông S nêu trên cũng là phù hợp.
Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp giữa các bên (ông T1và bà T3 với ông S ) phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
Vì các nhận định trên, Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n khá ng cá o củ a ông T , sử a bả n á n sơ thẩ m, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Anh T :
Hủy toàn bộ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Lạc Thị T3 với ông Nguyễn Minh S được Văn phòng công chứng P công chứng số 3643, quyển số 2 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/5/2017 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, toạ lạc tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Hủy phần nội dung chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T1 sang ông Nguyễn Minh S đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, toạ lạc tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Bến Lức chỉnh lý sang tên ngày 18/5/2017.
Về án phí: Ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm. Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Anh T ; sửa bản án sơ thẩm.
2. Tuyên xử:
2.1. Hủy toàn bộ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Lạc Thị T3 với ông Nguyễn Minh S được Văn phòng công chứng P công chứng số 3643, quyển số 2 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/5/2017 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, toạ lạc tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
2.2. Hủy phần nội dung chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T1 sang ông Nguyễn Minh S đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 17, diện tích 694,4m2, loại đất LUA, toạ lạc tại xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Bến Lức chỉnh lý sang tên ngày 18/5/2017.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Anh T không phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm. Hoàn lại 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005684 ngày 02/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức tỉnh Long An cho ông Thuấn.
Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm.
3.1 Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Phạm Anh T không phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm. Hoàn lại 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000349 ngày 3/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Long An cho ông T .
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An; - NĐ (1); - BĐ (1); - NLQ (4); - Lưu (6). HS (2). 19b (Án-36) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Huynh |