vanban.org

Bản án 418/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 30/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Nhật M 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2025 đến ngày 23/01/2026 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hưng V - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 418/2026/HS-ST
Ngày: 30/7/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hải Yến

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đức – Hiệu trưởng Trường THCS Kim Chung.

Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Cán bộ hưu trí xã

Đông Anh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Biển – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hứa Hải Linh - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 424/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 424/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2026 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Nhật M, sinh ngày 06/4/2009 (thời điểm thực hiện hành vi vi phạm là 16 tuổi 08 tháng 18 ngày), tại Phú Thọ; giới tính: nam; Nơi thường trú: Tổ dân phố C, phường P, tỉnh Phú Thọ; Số CCCD : 026209004764; Nghề nghiệp: Học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Tiến C và bà Nguyễn Thị H; Theo trích lục tiền án, tiền sự ngày 10/02/2026 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2025 đến ngày 23/01/2026; Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trương Hưng V, sinh ngày 02/6/2008 (thời điểm thực hiện hành vi vi phạm là 17 tuổi 06 tháng 22 ngày), tại Phú Thọ; giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Phú Thọ; Số CCCD: 026208000252; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trương Việt H1 và con bà Nguyễn Thị H; Theo trích lục tiền án, tiền sự ngày 10/02/2026 của Công an thành phố H xác định bị cáo không có tiền án tiền sự; Tạm giữ, tam giam từ ngày 25/12/2025 đến ngày 23/01/2026; Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

3.Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Nhật M: Ông Nguyễn Tiến C, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 (là cha mẹ đẻ bị cáo). Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt ông C, bà H.

4.Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Trương Hưng V: Ông Trương Việt H1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 (là cha mẹ đẻ bị cáo). Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt bà H, vắng mặt ông H1.

5.Người bào chữa cho bị cáo V, bị cáo M: Ông Vũ Văn D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Có mặt

6. Người làm công tác xã hội: Bà Nguyễn Khánh L, sinh năm 1983 – Cán bộ Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

7. Đại diện Trường P, phường P, tỉnh Phú Thọ: Bà Mai Thị D1 – Phó bí thư Đoàn trường. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Nguyễn Nhật M, sinh ngày 06/04/2009, Nơi thường trú: tổ dân phố C, phường P, tỉnh Phú Thọ cần có tiền để tiêu sài, M lên mạng xã hội tìm hiểu thì biết việc mua bán ma túy tổng hợp dạng tinh dầu CBD có lợi nhuận cao nên Minh đăng ghi chú trên ứng dụng Messenger với nội dung “skibidi” thể hiện việc M có bán ma túy dạng tinh dầu CBD để người có nhu cầu liên hệ mua thì M bán kiếm lời.

Chiều ngày 23/12/2025, khi M đang ở nhà tại tổ dân phố C, phường P, tỉnh Phú Thọ thì số điện thoại 0582133796 nhắn tin đến số điện thoại 0981.222.771 của M hỏi mua tinh dầu CBD có chứa chất ma túy, đồng thời đề nghị M kết bạn qua tài khoản Facebook “Duc Anh N” để trao đổi. M đồng ý, sử dụng tài khoản Facebook “Nguyễn Nhật M” kết bạn với tài khoản “Duc Anh Nguyen” và nhắn tin thỏa thuận việc mua bán.

Qua trao đổi, người sử dụng tài khoản “Duc Anh N” đặt mua 10ml tinh dầu CBD. M báo giá 1.200.000 đồng/10ml, sau đó nói hiện chỉ còn loại lọ 05ml với giá 600.000 đồng/lọ. Người mua đồng ý. Thực tế, thời điểm này M chưa có tinh dầu CBD để giao nên yêu cầu người mua chuyển tiền trước. M gửi mã QR tài khoản Ngân hàng M1, đứng tên Nguyễn Nhật M, để người mua chuyển tiền. Sau đó, người sử dụng tài khoản “Duc Anh N” đã chuyển vào tài khoản của M số tiền 600.000 đồng để mua 01 lọ tinh dầu CBD loại 05ml.

Do chưa có hàng để giao, M nhắn tin hẹn người mua khoảng từ 19 giờ đến 20 giờ ngày 24/12/2025 sẽ giao hàng. Khi M hỏi địa điểm nhận hàng, người mua cho biết nhận gần khu vực Trung tâm hành chính xã Q, thành phố Hà Nội và gửi định vị cho M. M kiểm tra định vị thì thấy vị trí hiển thị tại khu dân cư thôn N, xã Q, thành phố Hà Nội.

Sau khi thỏa thuận bán tinh dầu CBD cho người mua, M tiếp tục lên mạng xã hội Facebook tìm nguồn mua. M thấy một tài khoản không rõ tên đăng bán tinh dầu CBD và để thông tin “ai mua kết bạn Telegram”. M sử dụng tài khoản Telegram tên “Chill”, đăng ký bằng số điện thoại 0981222771, để liên hệ với tài khoản Telegram không rõ tên nói trên và hỏi mua 02 lọ tinh dầu CBD loại 05ml với giá 250.000 đồng/lọ, tiền vận chuyển là 100.000 đồng. Tổng số tiền M phải thanh toán là 600.000 đồng. M sử dụng tài khoản Ngân hàng MB của mình chuyển cho người bán số tiền 450.000 đồng vào tài khoản ngân hàng đứng tên “DANG HOANG NAM”, gồm 02 lần chuyển khoản: lần thứ nhất 400.000 đồng, lần thứ hai 50.000 đồng; số tiền còn lại 150.000 đồng Minh thanh toán khi nhận hàng. M yêu cầu người bán gửi hàng đến khu vực bến xe P, tỉnh Phú Thọ.

Đến khoảng 16 giờ ngày 24/12/2025, M nhận được điện thoại của một người lạ yêu cầu ra khu vực bến xe P để nhận hàng. M đi đến địa điểm trên thì được một nam giới trên xe khách giao cho một gói hàng và yêu cầu thanh toán nốt 150.000 đồng. M nhận gói hàng, kiểm tra bên trong có 02 lọ nhựa màu trắng, bên trong chứa chất lỏng là tinh dầu CBD có chứa chất ma túy. Sau đó, M cất 02 lọ tinh dầu CBD trong người rồi đi học thêm. Sau khi nhận được hàng, M nhắn tin cho người sử dụng tài khoản “Duc Anh Nguyen” thông báo “CBD đã về” và hỏi lại vị trí nhận hàng. Người mua nhắn lại địa điểm giao hàng tại khu hành chính xã Q, thành phố Hà Nội, do người này đang ở hội chợ.

Đến khoảng 19 giờ ngày 24/12/2025, do bận việc không trực tiếp đi giao hàng được, M nhắn tin qua Messenger cho Trương Hưng V, sinh năm 2008, trú tại tổ dân phố T, phường P, tỉnh Phú Thọ, nhờ V đi giao tinh dầu CBD và hứa trả tiền công 150.000 đồng. V đồng ý. M mang theo 02 lọ tinh dầu CBD đến nhà V để thuê V giao cho người mua. Khi đến cửa nhà V, M kiểm tra thì phát hiện chỉ còn 01 lọ tinh dầu CBD loại 05ml, còn 01 lọ đã bị rơi trên đường đi, không xác định được vị trí. M đưa cho V 01 lọ tinh dầu CBD loại 05ml, cung cấp số điện thoại 0582133796 của người mua để V liên hệ, đồng thời chuyển khoản cho V số tiền 150.000 đồng là tiền công giao hàng. M dặn V đi theo vị trí định vị mà M gửi; khi đến điểm giao hàng thì không gặp trực tiếp người mua mà chỉ gọi điện liên hệ, sau đó đặt lọ tinh dầu CBD ở ven đường gần vị trí hẹn, quay video và ghim vị trí gửi lại cho M để M chuyển cho người mua. Sau khi giao lọ tinh dầu CBD cho V, M đi về nhà. M nhận được video và vị trí do V gửi, thể hiện nơi V đã đặt lọ tinh dầu CBD. M gọi điện cho người sử dụng tài khoản “Duc Anh Nguyen”, yêu cầu người này chuyển thêm 300.000 đồng tiền công vận chuyển thì M mới gửi vị trí nhận hàng; nếu không chuyển thì M sẽ không giao hàng nữa. Sau đó, người mua đã chuyển khoản cho M số tiền 300.000 đồng. Khi nhận được tiền, M gửi video và vị trí để hàng cho người mua.

Sau khi thực hiện xong việc mua bán tinh dầu CBD có chứa chất ma túy, M đã xóa toàn bộ nội dung tin nhắn trên Facebook và T liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của M và việc thuê V giao hàng. Sau đó, M được Cơ quan Công an mời đến làm việc. Tại Cơ quan Công an, M khai nhận hành vi phạm tội như trên và giao nộp các đồ vật, tài liệu liên quan.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Nhật M và Trương Hưng V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. M khai ngày 24/12/2025 và V khai ngày 25/12/2025 đều xác định là lần đầu tiên bán ma túy, mục đích để kiếm lời, nếu bán trót lọt thì mỗi người sẽ được hưởng lợi 150.000 đồng.

Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với Trương Hưng V và Nguyễn Nhật M bằng que thử 5 chân, kết quả: V và M đều âm tính với ma túy.

* Vật chứng thu giữ:

- Tạm giữ của Trương Hưng V:

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus màu hồng, số IMEI: 356774082853474, số seri: F2LVDL11JCM4, bên trong lắp sim số 0332697613, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh đen bạc, BKS: 88H1-329.33, số khung: RLHJA3922MY023987, số máy: JA39E2140020, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn có nắp màu trắng trong suốt, đường kính đáy 2cm, chiều cao 5,5cm, bên trong chứa chất lỏng màu trắng đục nghi là ma túy CBD.

- Tạm giữ của Nguyễn Nhật M:

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus màu hồng, số IMEI: 356773080847629, số seri: FD1V90XRJCM4, bên trong lắp sim số 0981222771, đã qua sử dụng.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh đen bạc, BKS: 88H1-329.33, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định, chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H. Việc V lấy xe mô tô của chị H làm phương tiện đi giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý chị H không biết và V cũng không nói cho chị H biết lấy xe mô tô đi đâu, làm gì nên cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chị H.

Số vật chứng còn lại được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam S, Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H.

Kết quả giám định ma túy:

Ngày 03/01/2026, Phòng K - Công an thành phố H có Kết luận giám định số 99: Chất lỏng màu trắng đục bên trong 01 (một) lọ nhựa có thể tích 4ml ma túy loại MDMB-INACA và ma túy loại MDMB-4en-PINACA.

Ngày 12/3/2026, V1 kết luận giám định: Nồng độ, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong 2,0ml chất lỏng gửi giám định lần lượt là 7,18mg/ml và 0,014gam. Hiện nay, C09 không có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA, nên không giám định được nồng độ, khối lượng chất ma túy MDMB-INACA có trong mẫu gửi giám định.

Về nguồn gốc số ma túy M mua: M mua ma tuý thông qua mạng xã hội của một người không quen biết, trả, tiền qua tài khoản mang tên DANG HOANG NAM. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã làm việc với N1 xác định tài khoản trên N1 không sử dụng, không biết rõ ai là người đang sử dụng. Ngoài lời khai của M Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện được người bán ma tuý cho M nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với người mua ma túy: M bán ma tuý cho một người không quen biết, sử dụng số điện thoại 0582133796 và trả tiền mua ma túy cho M qua số tài khoản 19836499636018 và 8986566955 ngân hàng T1. Quá trình điều tra xác định số điện thoại 0582133796 chủ thuê bao là Xa Văn Q. Tuy nhiên, anh Q không sử dụng số điện thoại trên. Số tài khoản 19836499636018 ngân hàng T1 là của Phạm Văn Đ; số tài khoản 8986566955 ngân hàng T1 là của Phạm Thị C1. Tại Cơ quan điều tra anh Đ và chị C1 đều khai nhận sử dụng số tài khoản trên để chuyển tiền cho 01 nam giới không quen biết, không biết mục đích chuyển tiền là gì, không hưởng lợi gì. Ngoài lời khai của Q; Đ và C1 Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện được người mua ma túy của M là ai nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Cáo trạng số 159/CT-VKS - KV7 ngày 30/6/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội quyết định truy tố bị cáo: Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đã ăn năn, hối cải và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trương Hưng V trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo còn trẻ nên nhận thức còn hạn chế, gia đình có bố bị tiểu đường, mẹ hiện đang điều trị ung thư tuyến giáp nên để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội thì nếu có thể thì đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Nhật M trình bày: Sự việc xẩy ra do lỗi của cha mẹ không sát sao với con cái vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo còn trẻ nên nhận thức còn hạn chế để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tuy nhiên xét về điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo nên Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Nhật M từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo Trương Hưng V từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng, tài liệu: 01 phong bì niêm phong ma tuý có chữ ký của cán bộ công an và giám định viên là phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng kèm sim tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Truy thu mỗi bị cáo số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có là 150.000 đồng.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo V, bị cáo M, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà người bào chữa cho các bị cáo: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội đã truy tố đối với bị cáo. Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ thể chất, tinh thần; hoàn cảnh của gia đình bị cáo V thì cả bố mẹ đều ốm đau, gia đình bị cáo M khó khăn phải bươn chải chăm lo cuộc sống hàng ngày. Đồng thời, gia đình các bị cáo đều có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến, trong suốt quá trình điều tra và xét xử các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; không có tiền án, tiền sự. Đồng thời bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong suốt quá trình điều tra. Nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt các bị cáo với mức án thấp nhất dưới khung hình phạt, thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để tạo cơ hội cho các bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội. Ngoài ra không có nội dung tranh tụng nào khác.

Bà Mai Thị D1 – Phó bí thư Đoàn trường, đại diện Trường P trình bày: Nhà trường thường xuyên tuyên truyền tác hại của ma tuý tuy nhiên do nhận thức của các em học sinh còn hạn chế, lại bị bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo. Đối với học sinh Nguyễn Nhật M luôn chấp hành tốt nội quy của nhà trường, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tạo điều kiện và đưa ra hình phạt thấp nhất để tạo cơ hội cho bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

Tại phiên toà, bà Nguyễn Khánh L là đại diện Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ – cán bộ làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên vắng mặt nhưng đã gửi Văn bản ý kiến và chủ toạ phiên toà thay mặt công bố toàn bộ nội dung Văn bản ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý theo hướng giáo dục, phục hồi, hạn chế trừng phạt theo tinh thần của Luật tư pháp người chưa thành niên để vừa răn đe và mang tính giáo dục cũng như đảm bảo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật để các bị cáo có cơ hội sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội và tội danh của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được gồm: vật chứng tạm giữ; biên bản ghi lời khai, Tường trình, lời khai của các đối tượng liên quan; kết quả xét nghiệm chất ma túy… có đủ căn cứ xác định: Ngày 24/12/2025, tại khu dân cư thôn N, xã Q, thành phố Hà Nội, Nguyễn Nhật M và Trương Hưng V đã có hành vi bán trái phép 01 lọ tinh dầu 04ml ma túy loại MDMB-INACA và ma túy loại MDMB-4en-PINACA, trong đó chất ma túy MDMB-4en-PINACA có nồng độ là 7,18mg/ml = 0,014gam cho tài khoản facebook “Duc Anh N” với giá 900.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý mà còn làm phát sinh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và là nguyên nhân của một số các tệ nạn xã hội cùng tội phạm khác. Có thể nói ma túy là tệ nạn của các loại tệ nạn, gây ra ảo giác cho người sử dụng dẫn đến khả năng mất kiểm soát, làm chủ hành vi. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mình gây ra và hậu quả, song do thiếu tu dưỡng, tham lam, ý thức coi thường pháp luật nên vẫn cố tình thực hiện. Do đó, hành vi của các bị cáo phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

............

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Việc đưa các bị cáo ra xét xử và có mức hình phạt thỏa đáng, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước mọi hành vi phạm tội là cần thiết.

Đối với người bán ma tuý cho M và người mua ma túy không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý là đúng quy định.

Về nhân thân và tiền án, tiền sự của các bị cáo: Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V đều chưa có tiền án, tiền sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện các bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo; Ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo M gia đình đều có người tham gia kháng chiến và được tặng Huy chương kháng chiến, hiện nay gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sĩ, bị cáo hiện đang đi học và có đơn của tập thể lớp xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với bị cáo V có ông nội tham gia kháng chiến và được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo M, V đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt chính: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò đối với từng bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:

Bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V phạm tội nghiêm trọng, bị cáo M là người khởi xướng, rủ rê, bị cáo V biết được việc đi giao bán ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vi tham lam tư lợi nên vẫn cố tình phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xem xét đến một phần hoàn cảnh gia đình của từng bị cáo cũng như vai trò của từng bị cáo mà đáng lẽ bị cáo M phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo V nhưng do hiện bị cáo M đang đi học lớp 12 nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo và xử phạt cả hai bị cáo với mức án ngang nhau là đảm bảo theo tinh thần của Luật tư pháp người chưa thanh niên vừa răn đe và mang tính giáo dục cũng như đảm bảo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật để các bị cáo có cơ hội sớm trở về đoàn tụ với gia đình. Do vậy, quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên toà về hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý các tài liệu là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện liên quan đến bị cáo thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng, tài liệu: Đối với 01 phong bì niêm phong ma tuý có chữ ký của cán bộ công an và giám định viên cần cho tịch thu tiêu hủy; Tịch thu sung công quỹ nhà nước 02 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng lắp sim điện thoại đã qua sử dụng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ Luật Hình sự; Điều 12, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Nhật M 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2025 đến ngày 23/01/2026

Bị cáo Trương Hưng V 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2025 đến ngày 23/01/2026

2. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V phải nộp lại số tiền 150.000đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng, án phí:

Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý có chữ ký của cán bộ công an và giám định viên;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 02 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam S, Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H).

Các bị cáo Nguyễn Nhật M, Trương Hưng V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ