vanban.org

Bản án 418/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Thái Công H.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được tiếp tục nuôi 01 con chung tên Thái Nguyễn H Khang, sinh ngày 05/4/2013 và chị G không yêu cầu anh H phải đóng góp nuôi con. Về chia tài sản: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Thái Công H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN G
Bản án số: 418/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26-10-2018
V/v: Ly hôn giữa
chị G và anh H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn On.

Các Hội thẩm nhân dân dân:

Ông SoRoLel

Bà Võ Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An G tham gia phiên tòa: Ông Đặng Tấn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2018/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 388/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1993.

Địa chỉ: ấp VP, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: Anh Thái Công H, sinh năm 1988.

Địa chỉ: ấp LH, xã LA, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 4 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm G trình bày: Tôi và anh Thái Công H do mai mối, được cha mẹ hai bên đồng ý, có tổ chức lễ cưới năm 2012, có đăng ký kết hôn trễ hạn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An G theo quy định của pháp luật. Cuộc sống chung vợ chồng có hạnh phúc được đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, không hợp nhau, không hạnh phúc và ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Về con chung có 01 con tên Thái Nguyễn H Khang, sinh ngày 05/4/2013 hiện đang sống với mẹ. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ. Tôi yêu cầu xin ly hôn với anh Thái Công H , yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh H phải đóng góp nuôi con.

Bị đơn anh Thái Công H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật về thủ tục theo quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Đối với các đương sự thì thực hiện đúng theo quy định tại các điều 70- 71- 72- 73 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Thái Công H do mai mối, tổ chức lễ cưới năm 2012, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống có hạnh phúc được đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, không hợp nhau, không hạnh phúc và ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Về con chung có 01 con tên Thái Nguyễn H Khang, hiện đang sống với mẹ. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ. Chị G yêu cầu xin ly hôn với anh H, yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh H phải đóng góp nuôi con. Anh H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu nhận định vụ án như sau: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Thái Công H có đăng ký kết hôn trễ hạn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An G theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, phiên tòa tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp “ Ly hôn ” giữa chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Thái Công H được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị Cẩm G yêu cầu xin ly hôn với anh Thái Công H. Về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Thái Nguyễn H Khang, sinh ngày 05/4/2013, hiện đang sống với mẹ và không yêu cầu anh H phải đóng góp nuôi con. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ.

Anh Thái Công H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được.

Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này.

- Khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

- Khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn.

- Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xử:

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Thái Công H.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được tiếp tục nuôi 01 con chung tên Thái Nguyễn H Khang, sinh ngày 05/4/2013 và chị G không yêu cầu anh H phải đóng góp nuôi con.

Về chia tài sản: Không có, về nợ chung không có nợ.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát là có cơ sở xem xét và phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản Quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Hội đồng xét xử xét nhận thấy: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Thái Công H, sau khi Tòa án khi thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh H nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được. Ngày 13/8/2018 Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của anh Thái Công H, được anh Lê Anh Pháp là Công an viên phụ trách ấp Long Hiệp, xã Long An, thị xã Tân Châu cung cấp anh Thái Công H, sinh năm 1988, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Long Hiệp, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An G, hiện đương sự Thái Công H không có mặt tại địa phương mà đi làm ăn xa tại tỉnh Bình Dương, thỉnh thoảng 04-05 tháng có về thăm gia đình. Ngày 13/8/2018 Tòa án tiến hành xác minh bà Võ Thị Kim Phượng, được bà Phượng cung cấp Thái Công H là con trai còn Nguyễn Thị Cẩm G là con dâu, H - G kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn, có 01 con chung tên Thái Nguyễn H Khang, về tài sản chung, nợ chung không có, về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng H - G do thường xuyên cải vã nhau khi H - G đi làm ăn ở tỉnh Bình Dương, H về nhà tôi sống từ năm 2015 cho đến nay, tôi nhiều lần đứng ra hàn gắn cho vợ chồng chung sống lại nhưng vẫn không được. Về con chung có 01 con tên Thái Nguyễn H Khang, hiện đang sống với mẹ, chị G có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ đóng góp nuôi con nên hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ.

Chị Nguyễn Thị Cẩm G và Thái Công H chung sống có hạnh phúc chỉ được một thời gian và phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015 cho đến nay, được cha mẹ động viên hàn gắn nhưng vợ chồng không tự hòa giải để hàn gắn cuộc sống vợ chồng, mà diễn biến mâu thuẫn ngày một gay gắt, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nghĩ nên cho anh H và chị G ly hôn là phù hợp.

Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0004570 ngày 13/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu tỉnh An G.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 11-85-89-92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Thái Công H.

2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được tiếp tục nuôi 01 con chung tên Thái Nguyễn H Khang, sinh ngày 05/4/2013 và chị G không yêu cầu anh H phải đóng góp nuôi con.

3. Về chia tài sản: Không có.

Về nợ chung: không có nợ.

4. Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0004570 ngày 13/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An G.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ