- Tranh chấp gì? án hành chính — "phạm ngọc h"
- Tòa quyết gì? Căn cư khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính,
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 417/2025/HC-PT Ngày: 14 - 4 - 2025 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phan Nhựt Bình Các Thẩm phán:
Ông Phạm Trí Tuấn
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên. Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 05/2025/TLPT-HC ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 30/2024/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 400/2025/QĐPT-HC ngày 28 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
1. Ông Phạm Ngọc H (vắng mặt);
2. Bà Phạm Thị Ngọc T (có mặt);
3. Bà Phạm Thị H1 (vắng mặt);
4. Bà Phạm Thị T1 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
5. Bà Bạch Thị Thanh H2 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Trần Hữu Đ (có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông
- Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân thành phố G;
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G;
Địa chỉ: Đường V, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thạch Cảnh T2; chưc vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G (xin xét xử vắng mặt).
- Người co quyền lơi, nghia vu liên quan: Ủy ban nhân dân phường N;
Địa chỉ: Phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trường C; chưc vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N (xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07-02-2024 và trong quá trình giải quyết vu án, người khởi kiện ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 trình bày:
Ngày 22-12-1999 Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp cho cụ Phạm Ngọc C1 (sinh năm 1939, chết năm 2016) Giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số 00530 QSDĐ/TH, đối vơi thửa đất số 165, tờ bản đồ số 05, diện tích 570m2, mục đích sử dụng: Đất khu dân cư (300m2 đất ở và 270m2 đất vườn tạp). Năm 2003 cụ C1 tách thửa 165 nêu trên và tặng cho con gái là bà Phạm Thị Ngọc T diện tích đất 270m2 (100m2 đất ở và 170m2 đất vườn tạp). Ngày 03-7-2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T Giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số 390638 QSDĐ/HH, thửa đất số 408, tờ bản đồ số 05 (tách tư thửa 165) và cấp lại cho cụ C1 Giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số 390639 QSDĐ/HH, thửa đất số 165, tờ bản đồ số 05, đối vơi diện tích đất còn lại là 300m2, mục đích sử dụng: Khu dân cư (200m2 đất ở và 100m2 đất vườn tạp). Quá trình sử dụng đất, cụ C1 có cho vơ chồng con gái là bà Phạm Thị T1 làm nhà, sinh sống trên môt phần diện tích đất thuôc thửa số 165, tờ bản đồ số 05 nhưng chưa làm thủ tục tách thửa theo quy định pháp luật. Năm 2013 vơ của cụ C1 (cụ Nguyễn Thị D) chết, đến năm 2016 cụ C1 chết; di sản thưa kế của cụ C1 và cụ D để lại là thửa đất số 165 nêu trên chưa đươc phân chia cho hàng thưa kế thư nhất là ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 (các con của cụ C1 và cụ D).
Ngày 12-9-2018 Ủy ban nhân dân thành phố G ban hành Thông báo số: 341/TB-UBND về việc thông báo thu hồi đất đối vơi thửa số 165 nêu trên để thực hiện dự án: Hạng mục vành đai bảo vệ ven hồ tư cầu Đ đến cầu B, thuôc tiểu dự án giải phóng mặt băng khu tái định cư phía Đông hồ trung tâm và đường Đ dự án đầu tư xây dựng công trình hồ G. Ngày 24-6-2019 Ủy ban nhân dân thành phố G ban hành Quyết định số: 188/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích đất đo đạc thực tế 326,3m2, thuôc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 11 của dự án (Thửa đất số 165, tờ bản đồ số 5 phường N) và Quyết định số: 704/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trơ và tái định cư đối vơi những người thưa kế của cụ Phạm Ngọc C1 (Quyết định số 188/QĐ-UBND và Quyết định số: 704/QĐ-UBND). Theo Quyết định số: 704/QĐ-UBND, những người thưa kế của cụ C1 đươc bồi thường tổng số tiền 2.097.480.114đồng (đất đai: 1490.142.200đồng; nhà cửa, vật kiến trúc: 589.038.614đồng; cây trồng: 3.229.300đồng; chính sách hỗ trơ: 15.000.000đồng và bố trí cho bà Phạm Thị T1 01 lô đất tái định cư theo khoản 3 Điều 29 của Quyết định số: 07/2015/QĐ-UBND ngày 29-01-2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Ngày 09-3-2020 Ủy ban nhân dân thành phố G ban hành Quyết định số: 204/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trơ và tái định cư (Bổ sung lần 2), bồi thường bổ sung cho những người thưa kế của cụ C1 số tiền 14.346.300đồng về nhà cửa, vật kiến trúc.
Nhận thấy, Giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số 390639 QSDĐ/HH cấp ngày 03-7-2023 cấp cho cụ C1 đối vơi thửa đất số 165, tờ bản đồ số 05, mục đích sử dụng đất khu dân cư (200m2 đất ở và 100m2 đất vườn tạp), đo đạc thực tế 326,3m2 nhưng Ủy ban nhân dân thành phố G chỉ bồi thường 200m2 theo giá đất ở, còn lại bồi thường theo giá đất nông nghiệp (không bồi thường toàn bô diện tích đất theo giá đất ở) là không đúng. Đồng thời, trường hơp ông Phạm Ngọc H có hô khẩu và sinh sống tại địa phương, thuôc trường hơp phải di chuyển chỗ ở khi nhà nươc thu hồi đất ở, nhưng không đươc giao tái định cư là không đúng pháp luật nên ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 đa khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G. Ngày 16-01-2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G ban hành Quyết định số: 49/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại. Do đó, ngày 07-02-2024 ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy quyết định số: 188/QĐ-UBND ngày 24-6-2019 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc thu hồi đất.
- Hủy môt phần Quyết định số: 704/QĐ-UBND ngày 24-6-2019 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trơ và tái định cư đối vơi nôi dung bồi thường về đất và nôi dung tái định cư
- Hủy Quyết định số: 49/QĐ-UBND ngày 16-01-2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố G và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G trình bày:
Nôi dung yêu cầu của người khởi kiện đa đươc giải quyết cụ thể tại Quyết định số: 49/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G, do đó đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân phường N trình bày:
Căn cư Bản tự khai và đề nghị xác nhận năm 2018 của ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 về đất đai, nhà ở, hô khẩu và nghề nghiệp của hô gia đình, cá nhân trong khu vực giải phóng mặt băng hạng mục đường vành đai bảo vệ ven hồ tư cầu Đ đến cầu bà T3 và căn cư kết quả cuôc họp Hôi đồng tư vấn ngày 13-12-2018, Ủy ban nhân dân phường N đa xác nhận vào Bản tự khai và đề nghị xác nhận năm 2018 của ông H, bà T, bà H1, bà T1. Thực hiện Kết luận số: 01/KL-UBND ngày 31-12-2020 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc thanh tra công tác bồi thường, giải phóng mặt băng, ngày 31-3-2021 Ủy ban nhân dân phường N đa tổ chưc họp Hôi đồng tư vấn để xác nhận bổ sung liên quan đến hô bà Phạm Thị H1, ông Phạm Ngọc H và bà Phạm Thị Ngọc T; ngày 05-4-2021 Ủy ban nhân dân phường N ban hành Báo cáo số: 47/BC-UBND để bổ sung thông tin liên quan. Ngày 07-10-2022 Ban Q đất thành phố G ban hành Văn bản số: 388/CV-QLDA&PTQĐ về việc đề nghị Uỷ ban nhân dân xa, phường trong thành phố G xác nhận thông tin về đất ở, chỗ ở khác của ông Phạm Ngọc H để có cơ sở xem xét giải quyết chế đô an sinh cho ông H; cùng ngày Ủy ban nhân dân phường N tổ chưc họp Hôi đồng tư vấn. Ngày 10-10-2022 Ủy ban nhân dân phường N đa ban hành Văn bản số: 337/UBND xác nhận ông Phạm Ngọc H nhập khẩu vào hô bà Phạm Thị Ngọc T ngày 27-6-2018, không ở trực tiếp trên thửa đất bị giải toa trực tiếp của cụ Phạm Ngọc C1 (đa chết), thỉnh thoảng có về nhang khói các ngày giỗ, tết và không có chỗ ở nào khác trên địa bàn phường N, là đúng quy định tại Điều 35 của Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định cụ thể môt số nôi dung về bồi thường, hỗ trơ, tái định cư khi nhà nươc thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Do đó, Ủy ban nhân dân phường N đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 30/2024/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã quyết định:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 đối vơi yêu cầu hủy:
- Quyết định số: 188/QĐ-UBND ngày 24-6-2019 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc thu hồi đất thực hiện đầu tư xây dựng hạng mục Đường vành đai bảo vệ ven hồ tư cầu Đ đến cầu Bà T3 thuôc tiểu dự án giải phóng mặt băng, Khu tái định cư phía Đông Hồ Trung tâm và đường Đ2, dự án đầu tư xây dựng công trình: Hồ Gia N, thị xa G, tỉnh Đắk Nông;
- Môt phần Quyết định số: 704/QĐ-UBND ngày 24-6-2019 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trơ và tái định cư (đơt 2) cho những người thưa kế của cụ Phạm Ngọc C1 đối vơi nôi dung bồi thường về đất.
- Môt phần Quyết định số: 49/QĐ-UBND ngày 16-01-2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 đối vơi nôi dung bồi thường về đất.
2. Chấp nhận môt phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2:
- Hủy môt phần Quyết định số: 704/QĐ-UBND ngày 24-6-2019 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trơ và tái định cư (đơt 2) cho những người thưa kế của cụ Phạm Ngọc C1 đối vơi nôi dung giao tái định cư.
- Hủy môt phần Quyết định số: 49/QĐ-UBND ngày 16-01-2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 đối vơi nôi dung giao tái định cư.
- Buôc Ủy ban nhân dân thành phố G thực hiện nhiệm vụ công vụ về giao tái định cư cho ông Phạm Ngọc H theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04-10-2024 người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố G kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bị kiện có văn bản xin xét xử vắng mặt và trình bày ý kiến vẫn giữ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bô yêu cầu khởi kiện của ông H vì ông H không sinh sống tại phần đất bị thu hồi mà đến ngày 27/6/2018, ông H mơi nhập hô khẩu vào địa chỉ nhà bà T.
Người khởi kiện gồm các ông, bà Phạm Ngọc H, Phạm Thị Ngọc T, Phạm Thị H1, Phạm Thị T1, Bạch Thị Thanh H2 (có ông Trần Hữu Đ là đại diện theo ủy quyền) không đồng ý kháng cáo cảu người bị kiện, yêu cầu Hôi đồng xét xử bác kháng cáo và giữ nguyên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vu án:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hôi đồng xét xử phúc thẩm đa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng đa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về nôi dung: Ông Phạm Ngọc H không sinh sống tại phần đất bị thu hồi. Ngày 27/6/2018 ông H mơi nhập hô khẩu thường trú vào địa chỉ cư trú của bà Phạm Thị Ngọc T. Do đó, ông H không đủ điều kiện tái định cư khi thu hồi đất. Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận môt phần yêu cầu khởi kiện về việc tái định cư là không có căn cư pháp luật. Tư đó, đề nghị Hôi đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, bác toàn bô yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cưu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đươc thẩm tra tại phiên tòa và căn cư vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hôi đồng xét xử nhận định:
Tòa án đa triệu tập hơp lệ, người bị kiện và người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan xin xét xử vắng mặt. Căn cư Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Hôi đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này.
Hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 03-7-2003 Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp Giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số 390639 QSDĐ/HH do cho cụ Phạm Ngọc C1 (cha của người khởi kiện) đối vơi thửa đất số 165, tờ bản đồ số 05, thể hiện diện tích đất ở 200m2 và 100m2 đất vườn tạp. Năm 2013 cụ Nguyễn Thị D (vơ của cụ C1) chết, năm 2016 cụ C1 chết. Di sản thưa kế của cụ C1 và cụ D để lại là thửa đất số 165, tờ bản đồ số 05, trong đó hàng thưa kế thư nhất là ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 (các con của cụ C1 và cụ D) nhưng chưa phân chia di sản thưa kế.
Ngày 12-9-2018 Ủy ban nhân dân thành phố G ban hành Thông báo số: 341/TB-UBND về việc thông báo thu hồi đất đối vơi thửa số 165 nêu trên để thực hiện dự án hạng mục vành đai bảo vệ ven hồ tư cầu Đ đến cầu B, thuôc tiểu dự án giải phóng mặt băng khu tái định cư phía Đông hồ trung tâm và đường Đ dự án đầu tư xây dựng công trình hồ G. Theo kết quả đo đạc thực tế thửa đất thu hồi của những người thưa kế của cụ C1 có diện tích 326,3m2.
Ngày 26-4-2019 Ủy ban nhân dân thành phố G đa ban hành Quyết định số: 188/QĐ-UBND và Quyết định số: 704/QĐ-UBND thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trơ diện tích đất 326,3m2, trong đó 200m2 đươc áp giá bồi thường theo giá đất ở, và 126,3m2 đươc áp giá bồi thường theo giá đất nông nghiệp là phù hơp quy định tại Quyết định số: 507/1999/QĐ-TCĐC ngày 12-10-1999 do Tổng cục Địa chính ban hành hệ thống biểu mẫu thống kê diện tích đất đai; điểm a khoản 1 Điều 45 Nghị định số: 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004; Điều 103 của Luật Đất đai năm 2013; điểm a khoản 5 Điều 24 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014.
Tại Văn bản số 176/UBND-VP ngày 23/6/2022 và Văn bản số 337/UBND-VP ngày 10/10/2022 của Ủy ban nhân dân phường N có nôi dung: Ông Phạm Ngọc H không sinh sống trên thửa đất thu hồi của hô ông Phạm Ngọc C1 (là thửa đất số 165, tờ bản đồ số 5 đươc cấp Giấy chưng nhận cho hô ông Phạm Ngọc C1); chỉ có hô bà Phạm Thị T1 sinh sống trên thửa đất; ông Phạm Ngọc H nhập khẩu và sinh sống tại hô bà Phạm Thị Ngọc T (tại thửa đất 408, tờ bản đồ số 5); thời điểm đăng ký hô khẩu thường trú của ông Phạm Ngọc H tại hô bà Phạm Thị Ngọc T là ngày 27/6/2018 và nơi thường trú trươc khi chuyển đến là xa T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Theo nôi dung xác nhận trên thì ông H không phải là người sinh sống trên thửa đất thu hồi của cụ C1, không chung hô khẩu vơi cụ Phạm Ngọc C1. Căn cư quy định của luật Đất đai và Điều 29 của Quy định cụ thể môt số nôi dung về bồi thường, hỗ trơ, tái định cư khi Nhà nươc thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông ban hành kèm theo Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND ngày 29-01-2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ thì ông H không đủ điều kiện đươc tái định cư.
Ngoài ra, đối vơi những người thưa kế của cụ C1 và cụ D thì bà Bạch Thị Thị Thanh H2 không sinh sống tại phường N (sinh sống tại phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông); bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1 ngoài đươc hưởng thưa kế thửa đất số 165, tờ bản đồ số 05 do cụ C1 và cụ D để lại, còn sinh sống trên thửa đất khác tại phường N, bị thu hồi đất và đa đươc giao tái định cư. Đối vơi bà Phạm Thị T1 sinh sống trên thửa đất số 165, tờ bản đồ số 05 nhưng đa lập gia đình riêng và đươc giao tái định cư theo quy định tại tại khoản 3 Điều 29 Quyết định số: 07/2015/QĐ-UBND ngày 29-01-2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
Theo nôi dung nêu tư mục [4] – [5] thì Ủy ban nhân dân thành phố G ban hành Quyết định số: 704/QĐ-UBND ngày 24-6-2019 không xem xét tái định cư khi thu hồi phần đất tại thửa 165, tờ bản đồ số 05 của cụ C1 (nay là người thưa kế của cụ C1) là có căn cư.
Do các Quyết định số 188/QĐ-UBND và Quyết định số: 704/QĐ-UBND đươc xác định là có căn cư, nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G có Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 16-01-2024 bác khiếu nại của những người khởi kiện là đúng quy định pháp luật.
Tư những phân tích trên, Hôi đồng xét xử xét thấy Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ tài liệu, chưng cư trong hồ sơ vụ án, tư đó xử chấp nhận môt phần yêu cầu khởi kiện của ông H là không đúng quy định nên chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa môt phần bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là có căn cư chấp nhận.
Các phần quyết định khác của bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đa có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, theo đơn khởi kiện, người khởi kiện gồm các ông, bà Phạm Ngọc H, Phạm Thị Ngọc T, Phạm Thị H1, Phạm Thị T1 và Bạch Thị Thanh H2. Lẽ ra, mỗi người khởi kiện phải nôp tạm ưng án phí sơ thẩm là 300.000 đồng/người nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cho những người khởi kiện nêu nôp cùng 01 biên lại tạm ưng án phí vơi số tiền 300.000 đồng, là thiếu sót. Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về vấn đề này.
Án phí:
- Án phí hành chính sơ thẩm:
Các ông, bà Phạm Ngọc H, Phạm Thị Ngọc T, Phạm Thị H1, Phạm Thị T1 và Bạch Thị Thanh H2, mỗi người phải chịu 300.000 đồng;
Ủy ban nhân dân thành phố G và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G không phải chịu.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố G không phải chịu, theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cư khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính,
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện là Ủy ban nhân dân thành phố G; Sửa môt phần bản án hành chính sơ thẩm số 30/2024/HC-ST ngày 13-9-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông;
Áp dụng Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND ngày 29-01-2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành quy định cụ thể môt số nôi dung về bồi thường, hỗ trơ và tái định cư khi Nhà nươc thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hôi quy định về mưc thu, miễn, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 về việc yêu cầu hủy:
- Quyết định số: 188/QĐ-UBND ngày 24-6-2019 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc thu hồi đất thực hiện đầu tư xây dựng hạng mục Đường vành đai bảo vệ ven hồ tư cầu Đ đến cầu Bà T3 thuôc tiểu dự án giải phóng mặt băng, Khu tái định cư phía Đông Hồ Trung tâm và đường Đ2, dự án đầu tư xây dựng công trình: Hồ Gia N, thị xa G, tỉnh Đắk Nông;
- Quyết định số: 704/QĐ-UBND ngày 24-6-2019 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trơ và tái định cư (đơt 2) cho những người thưa kế của cụ Phạm Ngọc C1 đối vơi nôi dung bồi thường về đất.
- Quyết định số: 49/QĐ-UBND ngày 16-01-2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Ngọc H, bà Phạm Thị Ngọc T, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị T1 và bà Bạch Thị Thanh H2 đối vơi nôi dung bồi thường về đất.
2. Án phí hành chính sơ thẩm:
- Các ông, bà Phạm Ngọc H, Phạm Thị Ngọc T, Phạm Thị H1, Phạm Thị T1 và Bạch Thị Thanh H2, mỗi người phải chịu 300.000 đồng; đươc trư vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ưng án phí sơ thẩm đa nôp theo Biên lai số 0002153 ngày 20-3-2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông. Các ông, bà Phạm Ngọc H, Phạm Thị Ngọc T, Phạm Thị H1, Phạm Thị T1 và Bạch Thị Thanh H2 mỗi người phải phải nôp thêm 240.000 (Hai trăm bốn mươi nghìn) đồng.
- Ủy ban nhân dân thành phố G và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G không phải chịu.
3. Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố G không phải chịu; Hoàn trả cho Ủy ban nhân dân thành phố G 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ưng án phí sơ thẩm đa nôp theo Biên lai số 0002259 ngày 18-10-2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể tư ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP . HCM; - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Cục THADS tỉnh Đắk Nông; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Nhựt Bình |