- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 417/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-5-2023 V/v tranh chấp: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Lệ Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc
2. Ông Chu Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 343/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/4/2023 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thanh H - sinh năm 1981; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: phố T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q – sinh năm 1979; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phố T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội; hiện đang chấp hành án tại đội 22 Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc, Cục C10 – Bộ Công an.
(Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 02/3/2023 và các văn bản trình bày tại Tòa, nguyên đơn - chị Đặng Thanh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 25/12/2007 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không hợp tính cách. Mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng hơn. Ngày 22/9/2020, anh Q bị bắt giam về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”. Ngày 19/9/2022, anh Q bị kết án 07 năm tù giam về tội danh nêu trên và hiện đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 9/2020 đến nay.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự căng thẳng, trầm trọng nên chị xin ly hôn anh Q.
Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có ba con chung là: Nguyễn Hà V (nữ), sinh ngày 26/01/2008; Nguyễn Diệp Bảo A (nữ), sinh ngày 15/7/2012 và Nguyễn Diệp Bảo M (nữ), sinh ngày 08/11/2017. Ly hôn, chị xin nuôi cả ba con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị H xác định vợ chồng không có tài sản gì chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Chị và anh Q không có khoản nợ nào chung (không vay nợ ai và không cho ai vay nợ) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/4/2023, bị đơn - anh Nguyễn Văn Q trình bày:
Anh thống nhất với lời khai của chị H về quá trình kết hôn, mâu thuẫn của vợ chồng nên chị H xin ly hôn, anh cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 03 con chung như chị H đã khai. Anh đồng ý để chị H nuôi con, anh xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con. Sau này khi chấp hành án xong và khi có điều kiện, anh sẽ xin được nuôi các con sau.
Tài sản chung (động sản, bất động sản): Anh xác định vợ chồng không có tài sản gì chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ: Anh và chị H không có khoản nợ nào chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Q đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và không có chứng cứ gì để giao nộp. Do đang chấp hành án nên anh đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.
Ngoài các yêu cầu trên, chị H, anh Q không yêu cầu Toà án giải quyết bất cứ yêu cầu nào khác.
Tại phiên tòa:
Chị Đặng Thanh H vẫn giữ nguyên các ý kiến về việc xin ly hôn anh Nguyễn Văn Q, chị xin nuôi con và đề nghị tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q. Chị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đặng Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn Q. Vì vậy xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “ly hôn” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Q hiện đang chấp hành án phạt tù và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thanh H đối với anh Nguyễn Văn Q. Con chung: xác nhận chị H và anh Q có 03 con chung là Nguyễn Hà V (nữ), sinh ngày 26/01/2008; Nguyễn Diệp Bảo A (nữ), sinh ngày 15/7/2012 và Nguyễn Diệp Bảo M (nữ), sinh ngày 08/11/2017. Đề nghị giao ba con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q. Tài sản chung và nợ: anh chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Án phí: chị H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: anh Nguyễn Văn Q hiện đang chấp hành án phạt tù và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, chị Đặng Thanh H có đơn xin ly hôn anh Q tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa; căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án tranh chấp “ly hôn” giữa chị Đặng Thanh H và anh Nguyễn Văn Q là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị H, anh Q. Do đang chấp hành án nên anh Q đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Q.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 25/12/2007 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Q là hôn nhân hợp pháp.
Anh chị xác định quá trình vợ chồng chung sống đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 9/2018 do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính cách và đã có thời gian dài sống ly thân. Chị H xin ly hôn, anh Q cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, với điều kiện, hoàn cảnh như hiện nay thì anh chị không có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc; nhận định của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, do vậy, căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thanh H đối với anh Nguyễn Văn Q.
Con chung: Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: chị H và anh Q có 03 con chung là: Nguyễn Hà V (nữ), sinh ngày 26/01/2008; Nguyễn Diệp Bảo A (nữ), sinh ngày 15/7/2012 và Nguyễn Diệp Bảo M (nữ), sinh ngày 08/11/2017. Cháu V, cháu A có nguyện vọng xin được ở cùng mẹ sau khi bố, mẹ các cháu ly hôn. Chị H, anh Q cùng nhất trí đề nghị Tòa án giao cả ba con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q. Quan điểm này của anh chị là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với hoàn cảnh thực tế hiện nay của anh chị và không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
Tài sản chung (động sản, bất động sản) và nợ chung: Chị H, anh Q xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị Đặng Thanh H và anh Nguyễn Văn Q được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thanh H.
Chị Đặng Thanh H được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
2. Con chung: Xác nhận chị Đặng Thanh H và anh Nguyễn Văn Q có 03 con chung là: Nguyễn Hà V (nữ), sinh ngày 26/01/2008; Nguyễn Diệp Bảo A (nữ), sinh ngày 15/7/2012 và Nguyễn Diệp Bảo M (nữ), sinh ngày 08/11/2017. Giao 03 con chung cho chị Đặng Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn Q từ tháng 5 năm 2023 cho đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền thay thế.
Anh Q được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
3. Tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị Đặng Thanh H, anh Nguyễn Văn Q xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Nợ chung: Chị Đặng Thanh H, anh Nguyễn Văn Q xác nhận không có khoản nợ nào chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
5. Án phí: Chị Đặng Thanh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0071809 ngày 24/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Chị Đặng Thanh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa;
- Cơ quan Thi hành án quận Đống Đa;
- Lưu HS/VP.
Vũ Lệ Quyên Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Vũ Lệ Quyên
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa; - Cơ quan Thi hành án quận Đống Đa; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng kết hôn; - Lưu HS/VP. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm thÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ §µo ThÞ Hång Lý |