- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Bé L và Nguyễn Văn K"
- Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 417/2021/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 4 - 2021 V/v : “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chính
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Cán bộ Tòa án nhân dân
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1175/2020/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bé L, sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang
Địa chỉ liên lạc: 14/4C ấp N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang
Tạm trú: 7/4 ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/7/2020, biên bản lấy lời khai ngày
12/01/2021, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Bé L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn K tự nguyện kết hôn năm 1996, có đăng ký kết hôn
tại UBND xã T, huyện T, tỉnh An Giang.
Sau khi cưới vợ chồng bà về sống bên chồng, cưới nhau được mấy tháng
thì ông K đánh đập bà, việc bạo hành ngày càng nhiều, vợ chồng không hạnh phúc, ông K không lo cho vợ con, gia đình, bà không thể tiếp tục chịu đựng được nên bà ra ngoài sống riêng từ tháng 02/2020 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân của bà chỉ còn là hình thức nên bà có nguyện vọng được ly hôn với ông K.
- Về con chung: có 02 người con tên Nguyễn Thị Chúc L, sinh năm 1997
(đã trưởng thành) và Nguyễn Hoài B, sinh ngày 04/01/2008. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ B, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Không có.
Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo
thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công Ki chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không lý do. Phía nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: vì đây là tranh
chấp ly hôn và bị đơn cư ngụ tại huyện Hóc Môn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo các qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông K tự nguyện tiến đến hôn nhân.
Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 148 Quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 25/4/2006 thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông K là hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của bà L: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại đơn xin vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông K. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống hạnh phúc. Sau mấy tháng kết hôn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là ông K đánh đập bà, việc bạo hành ngày càng nhiều, vợ chồng không hạnh phúc, ông K không lo cho vợ con, gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2020 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân của bà chỉ còn là hình thức nên bà có nguyện vọng được ly hôn với ông K.
Hội đồng xét thấy, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và
thông báo về phiên hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông K vẫn cố tình tránh né không đến Tòa án, không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Điều này chứng tỏ ông K không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn trở về sống chung với nhau và hai người đã không chung sống hơn 01 năm, một quãng thời gian dài mà hai bên không có biện pháp hàn gắn, mỗi người đã có cuộc sống riêng. Nhận thấy đời sống chung vợ chồng của bà L và ông K đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[4] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, bà L và
ông K có 02 người con tên Nguyễn Thị Chúc L, sinh năm 1997 (đã trưởng thành) và Nguyễn Hoài B, sinh ngày 04/01/2008. Hiện nay, trẻ B đang sống với bà L nên bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ B, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 12/01/2021, trẻ B có nguyện vọng sống chung với bà L. Hội đồng xét thấy, yêu cầu này là phù hợp với nguyện vọng của trẻ B, phù hợp với tình hình thực tế, do đó có cơ sở chấp nhận.
Về tài sản chung: Đương sự khai không yêu cầu giải quyết trong vụ án
này.
Về nợ chung: Đương sự khai không có.
[5] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm
về phần thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn. Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà
Phạm Thị Bé L phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Bé L được
ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Hoài B, sinh ngày 04/01/2008 cho bà
Phạm Thị Bé L trực tiếp nuôi, tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Văn K cho đến khi có yêu cầu của bà L.
Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom,
chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án sẽ giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
4. Nợ chung: Không có.
5. Về án phí:
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Bé L phải chịu là
300.000 (ba trăm ngàn) đồng và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà bà L đã nộp theo biên lai số 0076647 ngày 04 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo
trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.Hóc Môn; - Chi Cục THADS H.Hóc Môn; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Phụng |