- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đổ Xuân Q - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo người đại diện hợp pháp của người bị hại về tăng hình phạt, không chấp nhận kháng cáo về tăng bồi thường; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 22-9-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên:
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 416/2018/HSPT Ngày: 26/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Lê Thị Thúy Bình;
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Xuân Hùng;
Ông Mai Anh Tài.
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng An, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 814/2017/HSPT ngày 31 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo Đỗ Xuân Q phạm tội “Giết người” do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
* Bị cáo bị kháng cáo: Đỗ Xuân Q, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm G, xã H, huyện B, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Đỗ Xuân K và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc T và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2017, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Xuân Q: Luật sư Hoàng Thị Hạnh - Văn phòng Việt Bắc thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên, có mặt.
* Người bị hại: Anh Hứa Văn H, sinh năm 1989 (đã chết)
* Người đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo:
1. Ông Hứa Văn N, sinh năm 1956, có mặt.
2. Bà Ngô Thị P, sinh năm 1957, có mặt.
Đều trú tại: xóm G, xã H, huyện B, tỉnh Thái Nguyên.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện bị hại: Luật sư Nguyễn Văn Tiến - Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 07/3/2017, sau khi ăn cơm và uống rượu tại quán Đ thuộc xã T, huyện B, tỉnh Thái Nguyên, Đỗ Xuân Q đi xe mô tô hiệu Honda BKS 20G1-329.55 theo đường tỉnh lộ 269B để về nhà, khi đi đến đoạn thuộc tổ dân phố T, thị trấn S, huyện B, tỉnh Thái Nguyên, Q thấy anh Hứa Văn H, sinh năm 1989, là người cùng xóm, điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha BKS 20G1-139.23 đi ngược chiều; xe Q vừa đi qua xe anh H được khoảng 150m thì anh Hùng bị ngã xuống đường. Q dừng xe quay lại để xem anh H bị ngã thế nào, khi Q đến nơi, anh H nói với Q là tại Q làm anh H bị ngã nên hai bên đôi co cãi chửi nhau. Trong lúc cãi nhau, Q dùng tay phải lấy từ túi quần ra 01 con dao bằng kim loại (loại dao bấm, theo bị cáo khai dài khoảng 35cm, bản rộng khoảng 2,5cm có 01 đầu nhọn) dùng ngón tay cái bấm cho lưỡi dao bật ra rồi đâm anh H 01 nhát vào vùng bụng làm anh H bị thương ngồi gục ngã tại chỗ. Lúc này có anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990 và anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 là hai anh em ruột (cùng trú tại: Tổ dân phố X, thị trấn S, huyện B) thấy có tiếng ngã xe mô tô chạy ra xem thì thấy anh H đang ngồi trên đường bị thương chảy máu ở bụng nên anh Đ và anh D dùng xe mô tô của anh H đưa anh H đi Bệnh viện huyện B để cấp cứu. Q thấy vậy cũng đi xe mô tô của mình theo sau, khi đến Bệnh viện huyện B, do vết thương nặng nên anh H được chuyển lên Bệnh viện Gang Thép; Q cùng lên xe ô tô cấp cứu đưa anh H lên Bệnh viện Gang Thép, còn anh Đ và anh D đi về nhà; trên đường đi, Q có gọi điện thoại cho vợ là chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh rể là Hà Văn T kể lại toàn bộ sự việc.
Sau khi anh H nhập viện, Q biết anh H bị thương nặng sợ người nhà của anh H đến đánh nên đã đi xe tắc xi về nhà bạn là Đào Đình Đ, trú tại xóm N, xã T, thị xã Y để ngủ nhờ qua đêm; Q có kể cho Đ nghe việc mình đâm anh H bị thương và có vay của Đ 200.000 đồng. Đến khoảng 05 giờ ngày 08/3/2017, Q đi xe tắc xi do anh Lê Đình D điều khiển để đến nhà cậu ruột là Nguyễn Văn K ở xóm L, xã Tân, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Trên đường đi, khi qua cầu Hà Châu thuộc địa phận xã C, huyện B, tỉnh Thái Nguyên, Q bảo anh D dừng lại; tại đây, Q ném con dao gây án xuống sông rồi đi tiếp. Khi đến nhà anh K, Q đã kể lại sự việc cho anh K nghe; sau khi biết toàn bộ sự việc, anh K đã đưa Q đến Công an huyện B đầu thú. Hậu quả anh H bị thương nặng, tử vong hồi 9 giờ ngày 08/3/2017. Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm con dao Q dùng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng không thu được.
Tại Bệnh án sao ngày 08/3/2017, của Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên xác định: Hứa Văn H bị vết thương thấu bụng có thủng tĩnh mạch chủ dưới, thủng dạ dầy, thủng thận và đầu tụy do bị đâm.
Tại Kết luận giám định số 1271/C54(TT3) ngày 28/4/2017 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: Các dấu vết nghi máu thu tại hiện trường (ký hiệu M1, M2) có dính máu của Hứa Văn H.
Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 482/KL-PC54 ngày 03/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Hứa Văn H bị vật sắc nhọn tác động vào vùng bụng phải làm tổn thương: Thủng dạ dầy, rách đầu tụy, rách tĩnh mạch chủ bụng gây chảy máu cấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 điện thoại di động Iphone 5 cũ màu đen, lắp sim có số thuê bao 0986381568.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave BKS 20G1- 329.55
- 01 xe mô tô hiệu YAMAHA BKS 20G1- 139.23
- 01 mũ bảo hiểm đỏ đã qua sử dụng.
- 01 quần bò màu xanh đã cũ, cạp quần có gắn mác W.
- 01 bì niêm phong số 1271 hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có mẫu máu ký hiệu M1, M2 thu giữ của tử thi Hứa Văn H,
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 22/9/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p, b khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Xuân Q 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2017.
Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 591; Điều 357 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Đỗ Xuân Q phải bồi thường cho gia đình anh H người nhận là ông Hứa Văn N và bà Ngô Thị P tiền bù đắp tổn thất tinh thần 100 tháng lương cơ sở x 1.300.000đ/tháng. Tổng cộng số tiền là 130.000.000 đồng. Cụ thể phần của ông Hứa Văn N là 65.000.000 đồng, bà Ngô Thị P 65.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng; án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2017, người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Hứa Văn N và bà Ngô Thị P kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Đỗ Xuân Q.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Hứa Văn N và bà Ngô Thị P đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tăng mức hình phạt đối với bị cáo lên 20 năm tù; về trách nhiệm dân sự tăng số tiền bù đắp tổn thất tinh thần tổng cộng là 150.000.000đồng; bị cáo mua bảo hiểm cho cha mẹ của người bị hại.
Bị cáo Đỗ Xuân Q đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Xuân Q về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, nhưng không đưa ra được căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo; chấp nhận kháng cáo tăng số tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho ông Hứa Văn N và bà Ngô Thị P.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Xuân Q đề nghị hội đồng xét xử xem xét: Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo Đỗ Xuân Q đã thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo đã khắc phục một phần thiệt hại cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo tăng hình phạt và tăng mức bồi thường, nhưng không đưa ra được chứng cứ gì mới; mức hình phạt và số tiền bồi thường Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện bị hại đề nghị Hội đồng xét xử đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đỗ Xuân Q thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi và phù hợp với lời khai của người làm chứng; do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Xuân Q phạm tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự như bản án sơ thẩm đã quy kết là có căn cứ, ®óng qui ®Þnh cña ph¸p luËt.
. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã coi thường tính mạng người khác, dùng dao đâm người bị hại thể hiện bản chất côn đồ của bị cáo. Do vậy, cần phải có mức án thật nghiêm khắc để trừng trị, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
. Sau khi xét xử sơ thẩm đại diện hợp pháp người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt, tăng bồi thường và đề nghị buộc bị cáo Đỗ Xuân Q mua bảo hiểm cho bố mẹ của người bị hại.
. Xét kháng cáo về tăng hình phạt thấy rằng hành vi của bị cáo Đỗ Xuân Q là đặc biệt nghiêm trọng, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng bị cáo Q đã có hành vi dùng dao tước đoạt tính mạng của người bị hại thể hiện tính côn đồ. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử bị cáo với mức án 15 năm tù là chưa phù hợp với tính chất mức độ và hậu quả gây ra. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo tăng mức hình phạt đối với bị cáo Đỗ Xuân Q.
. Đối với kháng cáo tăng bồi thường: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đỗ Xuân Q và gia đình người bị hại đã thỏa thuận về tiền viện phí và mai táng phí là 60.000.000đồng và bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần 100 tháng lương bằng 130.000.000 đồng là có căn cứ, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo tăng bồi thường của ông Hứa Văn N và bà Ngô Thị P, cũng như việc mua thẻ bảo hiểm cho cha mẹ của người bị hại.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Đỗ Xuân Q không nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Chấp nhận kháng cáo người đại diện hợp pháp của người bị hại về tăng hình phạt, không chấp nhận kháng cáo về tăng bồi thường; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 22-9-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân Q phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt: Đỗ Xuân Q 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2017.
Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 591; Điều 357 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Đỗ Xuân Q phải bồi thường cho gia đình anh Hùng người nhận là ông Hứa Văn N và bà Ngô Thị P tiền bù đắp tổn thất tinh thần 100 tháng lương cơ sở x 1.300.000đ/tháng, tổng cộng số tiền là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu) đồng. Cụ thể phần của ông Hứa Văn N là 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng, bà Ngô Thị P 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ 1 TANDTC - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - TTG CA tỉnh Thái Nguyên; - Cục THADS tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo (qua trại); - Đại diện bị hại (theo đ/c); - Lưu HS, HCTP. CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Xuân Hùng Mai Anh Tài | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thúy Bình THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Bình |