vanban.org

Bản án 415/2023/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/11/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Điền - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 415/2023/HSPT
Ngày: 30 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trực

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Ngọc Thắng;

Ông Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.

.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 367/2023/TLPT-HS ngày13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Minh Đ do có kháng cáo của các bị hại Lê Tấn Nghĩa và Vương Thị Nhị đối với bản án hình sự sơ thẩm số 125/2023/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Minh Đ; giới tính: nam; ngày sinh 01 tháng 02 năm 1978, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký h khẩu thư ng trú và cư trú: 486/5 T , Phư ng G, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Vi t Nam; dân t c: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghi p: không; trình đ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Văn Đ1 (chết) và con bà Trần Thị Đ2 (chết); tiền án: 02 - bản án số 881/HSST ngày 29/3/2000 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Minh Đ 11 năm tù về t i “Mua bán trái phép chất ma túy”(bị cáo chưa chấp hành n p phạt bổ sung 20.000.000 đồng và 50.000 đồng án phí);bản án số 162/2010/HSST ngày 30/9/2010 của Tòa án nhân dân Quận 7,Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Minh Đ 15 năm tù về t i “Mua bán trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa chấp hành: n p phạt 27.400.000 đồng và 1.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước, 200.000 đồng tiền án phí); tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/9/2021 cho đến nay - có mặt.

Bị hại: Ông Lê Tấn N (sinh năm 1975) và bà Vương Thị N2 (sinh năm 1979), cùng nơi cư trú: 11/5 đương F, phư ng T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau: Ông Lê Tấn N và vợ bà Vương Thị N2, nơi cư trú tại 11/5 đư ng F, phư ng T, Quận H, là hàng xóm với bà Hà Thị Xuân H, nơi cư trú tại 11/7 đư ng F, phư ng T, Quận H. Quá trình sinh sống, hai gia đình phát sinh mâu thuẫn gây gổ, cải vả thư ng xuyên trong sinh hoạt. Ngày 23/01/2021, gia đình ông N tổ chức đám giỗ và m i m t số bạn về ăn uống, hát karaoke. Do nhà ông N hát karaoke nên bà H mở nhạc lớn tiếng. Đến khoảng 15 gi 30 cùng ngày, sau khi khách ra về, ông N đứng trước nhà bà H chửi. Đến khoảng 16 gi cùng ngày bà N2 đứng ở cửa nhà chửi nhau với bà H, rồi cả hai lao vào đánh nhau nhưng được bà Mai Ngọc T can ngăn. Cùng th i điểm này,Nguyễn Minh Đ (là ngư i sống như vợ chồng với bà H) đang ở tại Quận 8, mở camera trên đi n thoại thấy sự vi c nên gọi đi n thoại hỏi bà H. Bà H nói “Thằng N nó tụt quần kêu chó cắn C". Đ nghe vậy nên điều khiển xe mô tô đi qua nhà bà H và thấy mặt bà H chảy máu nên hỏi “Ai đánh em", H nói “Thôi bỏ qua đi anh" nhưng Đ biết vợ chồng ông N đánh bà H nên Đ vẫn chạy ra đứng trước nhà ông N, cùng lúc này bà H cũng đi theo Đ qua nhà ông N, bà N2. Tại cửa nhà ông N, Đ hỏi “Sao mày và vợ mày đánh vợ tao" thì ông N chửi lại “ĐM”, nên Đ xông vào đấm vào mặt ông N và đánh anh Lê Tấn Q (là con trai ông N). Cùng lúc này, bà H túm tóc, đạp vào bụng bà N2 vừa đánh vừa lôi bà N2 vào nhà bà Mai Ngọc T (đối di n nhà H) để đánh tiếp. Ông N sau khi bị Đ đấm vào mặt thì chạy vào nhà lấy 01 con dao chạy ra, Đ thấy vậy thì chạy vào bếp của bà H lấy 01 con dao Thái Lan (cán nhựa, dài khoảng 22cm, lưỡi r ng 2,5cm). Ông N cầm dao chạy sang nhà bà T1 để tiếp tục đánh nhau với bà H. Thấy vậy, chị Lê Thị T2 và anh Lê Tấn Q con của ông N, bà N2 chạy sang can ngăn. Tại nhà bà T1 thấy bà H đánh nhau với bà N2 thì ông N, chị T2, anh Q nhào vô cùng đánh bà H thất thế nằm dưới sàn nhà, trên tay ông N cầm con dao. Đ chạy vào nhìn thấy bà H đang bị cả nhà ông N đánh nên Đ cầm dao đâm vào bụng và tay của ông N, rồi tiếp tục đâm vào lưng và cánh tay phải của bà N2 để giải vây cho bà H. Sau khi bà H đứng dậy được chạy ra ngoài thì Đ cũng chạy ra khỏi nhà bà T1 tiếp tục cầm dao đâm chị T2 và ông N nhưng không trúng (do được bà H can ngăn). Sau đó, Đ điều khiển xe bỏ trốn và ném dao trên đư ng, không thu giữ được. Ông N và bà N2 được gia đình đưa đến B nh vi n 115 cấp cứu. Ngày 29/4/2021, Cơ quan điều tra, Công an Quận 7 ra Quyết định khởi tố đối với bị can Đ. Do bị cáo Đ bỏ trốn, nên ngày 14/6/2021, Cơ quan điều tra, Công an Quận 7 ra Quyết định truy nã. Ngày 08/9/2022, bị cáo Đ bị bắt trong trư ng hợp truy nã để xử lý. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 129/TgT.21 ngày 03/3/2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận thương tích của Ông Lê Tấn N như sau: Vết thương vùng bụng trái gây đứt da, cơ, thủng m t lỗ ru t non, mạc treo đã được điều trị khâu ru t non, khâu cầm máu mạc treo hi n còn: 01 sẹo đâm kích thước 0,3 x (0,1-0,4) cm; 01 sẹo mổ trên dưới rốn kích thước 22,5 x (0,1-0,3) cm; 01 sẹo dẫn lưu kích thước 1,5 x (0,1-0,5) cm. Có tỷ l : 44%. Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác đ ng gây ra, gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Vết thương phần mềm 1/3 trên trước ngoài cánh tay trái đã được điều trị hi n còn 01 sẹo kích thước 0,1x (0,1-0,3) cm, tình trạng ổn định. Có tỷ l 1%. Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác đ ng gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của B y tế quy định tỷ l tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ l tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hi n tại là 45%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 138/TgT.21 ngày 05/3/2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận thương tích của bà Vương Thị N2 như sau: Vết thương lưng trái, thấu vào khoang ngực gây tràn máu màng phổi trái nhiều, ép xẹp nhu mô phổi trái, tổn thương phế nang rải rác thùy trên phổi, đẩy l ch trung thất sang phải, đã được phẫu thuật đặt dẫn lưu khoang mang phổi, hi n còn: M t sẹo đâm kích thước 2,3 x (0,1-0,2) cm; M t sẹo dẫn lưu kích thước 2 x 1.2 cm tại mạn sư n trái; Hình ảnh dải xơ xẹp ở thùy dưới phổi trái ngay vị trí vết thương trên phim chụp cắt lớp vi tính, ổn định. Có tỷ l : 13%. thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác đ ng gây ra. Thương tích rất nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Vết thương phần mềm gây thủng dứt da tại mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải, đã được điều trị khâu vết thương, hi n còn 01 sẹo kích thước 1,9 x 0,15cm, ổn định. Có tỷ l 01%. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc gây ra. Thương tích không nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Theo thông tư số 22/2019TT-BYT ngày 28/8/2019 của B y tế quy định tỷ l tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: tỷ l tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hi n tại là 14%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 125/2023/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: “…

1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ, sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 07 (bảy) năm tù về t i “Cố ý gây thương tích”.

Th i hạn tù tính ngày 08/9/2021…”.

Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhi m dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, các bị hại Lê Tấn N và Vương Thị N2 có kháng cáo yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm xem xét hành vi bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm t i “giết ngư i ” và bà Hà Thị Xuân H là đồng phạm với bị cáo Đ nhưng chỉ bị phạt hành chính là chưa đúng ngư i đúng t i.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị hại Lê Tấn N và Vương Thị N2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Bị cáo Nguyễn Minh Đ khai nhận hành vi phạm t i đúng như n i dung bản án sơ thẩm đã xét xử và không đồng ý với kháng cáo của các bị hại, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Với các tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như l i khai của bị cáo Nguyễn Minh Đ và các bị hại tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm t i “Cố ý gây thương tích” là đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo Đ dùng dao đâm các bị hại thể hi n tính quyết li t nhưng về ý thức bị cáo không muốn tước đi sinh mạng của các bị hại, hậu quả các bị hại không chết nên bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Đ có căn cứ. Do vậy đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xuất phát từ phát sinh mâu thuẫn giữa gia đình Ông Lê Tấn N với bà Hà Thị Xuân H tại nơi cư trú. Đôi bên thư ng xảy ra gây gổ với nhau trong sinh hoạt hàng ngày. Khoảng 15 gi 30 ngày 23/01/2021, giữa vợ chồng ông N- bà Vương Thị N2 xảy ra chửi nhau dẫn tới xô xát với bà H nhưng được can ngăn. Nguyễn Minh Đ (là ngư i sống như vợ chồng với bà H) lúc này đang ở tại Quận 8, có mở camera trên đi n thoại di đ ng thấy sự vi c nên gọi đi n thoại hỏi bà H, rồi điều khiển xe mô tô đến nhà bà H và biết vi c bà H với vợ chồng ông N đánh nhau. Đ liền qua nhà ông N, bà N2 thì đôi bên chửi nhau. Đ xông vào dùng tay đấm vào mặt ông N và đánh anh Lê Tấn Q (là con trai ông N). Cùng lúc này, bà H túm tóc, đạp vào bụng bà N2 và lôi bà N2 vào nhà của bà Mai Ngọc T (đối di n nhà H) để đánh tiếp. Ông N bị Đ đấm vào mặt thì chạy vào nhà lấy 01 con dao chạy ra. Đ thấy vậy chạy vào bếp nhà bà H lấy 01 con dao Thái Lan (cán nhựa, dài khoảng 22cm, lưỡi r ng 2,5cm). Ông N, Đ cầm dao chạy sang nhà bà T. Thấy vậy, chị Lê Thị T2 và anh Lê Tấn Q (con của ông N, bà N2) chạy sang can ngăn. Tại nhà bà T, Đ thấy bà H đang nằm dưới sàn nhà xô xát với bà N2, còn ông N, chị T2, anh Q đứng. Đ liền cầm dao đâm nhiều nhát vào bụng và tay của ông N gây thương tích, rồi tiếp tục đâm nhiều nhát vào cánh tay phải và lưng của bà N2 gây thương tích. Khi bà H cùng Đ chạy ra khỏi nhà bà T1 thì Đ quay lại và tiếp tục dùng dao đâm chị T2 trúng vào tay gây thương tích nhẹ và đâm ông N nhưng không trúng do được bà H can ngăn, sau đó Đ bỏ trốn. Ông N và bà N2 được đưa đến B nh vi n 115 cấp cứu điều trị thương tích. Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Thương tích của Ông Lê Tấn N: “...Tỷ l tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hi n tại là 45% (Vết thương vùng bụng trái gây đứt da, cơ, thủng một lỗ ruột non, mạc treo, gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự, các thương tích khác không gây nguy hiểm tính mạng)...”.

Thương tích của của bà Vương Thị N: “...tỷ l tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hi n tại là 14% (Vết thương lưng trái, thấu vào khoang ngực gây tràn máu màng phổi trái nhiều, ép xẹp nhu mô phổi trái, tổn thương phế nang rải rác thùy trên phổi, đẩy lệch trung thất sang phải. Thương tích rất nguy hiểm đến tính mạng đương sự, các thương tích khác không gây nguy hiểm tính mạng)...”.

Với hành vi phạm t i nêu trên của bị cáo Nguyễn Minh Đ, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử tuyên bố bị cáo phạm t i “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 B luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 theo Quyết định truy tố của Vi n kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.H i đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm t i của bị cáo xuất phát từ vi c mâu thuẫn sinh hoạt trong quan h hàng xóm giữa vợ chồng ông N bà N2 với bà H (ngư i có quan h như vợ chồng với Đ) đôi bên xảy ra xô xát đã được can ngăn. Khi Đ đến nhà bà H biết sự vi c, Đ tiếp tục chửi và dùng tay đánh vào mặt ông N, anh Quốc, bà H dùng tay đánh bà N2 và lôi bà N2 vào nhà bà T1 đánh tiếp. Ông N bị đánh nên có đi lấy dao nhưng không sử dụng vào vi c đánh nhau. Ngược lại bị cáo Đ đã dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng bụng (vết thương thủng ru t non) và tay của ông N, rồi tiếp tục đâm nhiều nhát vào cánh tay phải và vùng lưng của bà N2 (vết tH thấu vào phổi). Kết quả thực nghi m điều tra thể hi n khi Đ đứng đối di n với bà N2 đã dùng dao đâm trúng tay bà N2 thì bà N2 quay lưng lại bỏ chạy nên bị Đ đâm tiếp vào lưng vai của bà N2 vết thương thấu phổi. Sau đó Đ tiếp tục cầm dao đâm chị T2, chị T2 dùng tay đở nên trúng vào tay gây thương tích nhẹ và Đ tiếp tục đâm ông N lần hai nhưng không trúng do được bà H can ngăn, lúc nay Đ mới chịu dừng lại và bỏ trốn.

Xét thấy nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm t i của bị cáo Đ xuất phất từ mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt thư ng ngày dẫn đến vi c cải vả xô xát nhau nhưng bị cáo đã cố ý dùng dao là hung khí nguy hiểm liên tiếp đâm nhiều nhát vào ngư i của nhiều bị hại, trong đó có các vết thương trúng vào vùng trọng yếu trên cơ thể của 02 bị hại gây thương tích đã được giám định kết luận là nguy hiểm đến tính mạng (đối với ông N) và rất nguy hiểm đến tính mạng (đối với bà N2). Vi c các bị hại không chết là do được cứu chữa kịp th i. L i khai của bị cáo Đ cho rằng đ ng cơ, mục đích dùng dao đâm các bị hại là để giải vây cho bà Hà Thị Xuân H là không phù hợp với thực tế khách quan của vụ án và cũng không làm thay đổi t i phạm do bị cáo đã thực hi n. Bị cáo và bà H là những ngư i chủ đ ng tấn công các bị hại trước, trong lúc đôi bên xảy ra xô xát với nhau thì phía bị hại không sử dụng hung khí đề tấn công, không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng ngược lại bị cáo đã cố ý dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng trọng yếu trên cơ thể của các bị hại gây nguy hiểm đến tính mạng, bị cáo nhận thức rõ nhưng vẫn thực hi n; hơn nữa sau khi bà Hcùng bị cáo thoát ra ngoài khỏi nhà bà T1 thì bị cáo vẫn tiếp tục quay lại đâm tiếp vào chị T2 trúng vào tay và tiếp tục đâm vào ông N lần 2 nhưng không trúng (do được can ngăn), qua đó thể hi n sự quyết li t của bị cáo phạm t i đến cùng, có tính chất côn đồ và mong muốn tước đoạt mạng sống của các bị hại. Hành vi của bị cáo Đ đã thực hi n trong vụ án này có dấu hi u của t i phạm khác nặng hơn, nhưng Tòa án cấp sơn thẩm xét xử bị cáo về t i “Cố ý gây thương tích” là chưa phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng Vi n kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố nên cấp sơ thẩm không có lỗi. Xét quan điểm của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm là thiếu căn cứ không được chấp nhận. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của các bị hại Lê Tấn N và Vương Thị N2, hủy toàn b bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc h i về án phí, l phí Tòa án có hi u lực ngày 01/01/2017. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 345; điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 B luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hủy toàn b bản án sơ thẩm số 125/2023/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thủ tục chung. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh Đ cho đến khi Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án. Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ