vanban.org

Bản án 415/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 415/2018/HNGĐ-ST.
Ngày: 31/10/2018.
V/v: Tranh chấp “Ly hôn”.

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ BIEÂN HOØA

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thiều Thị Phi Loan - Nguyên phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa.

2. Bà Trương Thị Thìn - Nguyên phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa.

- Thö kyù phieân toaø: OÂng Nguyễn Thanh Tuyền – Thư ký toøa aùn nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hoàng Oanh - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1011/2018/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 405/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/9/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 684/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/10/2018, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Nguyên T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: 196, khu phố 1, phường T, thành phố B, Đồng Nai.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981.

Địa chỉ: 196, khu phố 1, phường T, thành phố B, Đồng Nai.

(Ông T, bà N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/4/2018, bản tự khai, trong quá trình làm việc, nguyên đơn ông Trần Nguyên T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà N tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2005, đến năm 2014 thì ông bà ly hôn theo quyết định của Tòa án. Năm 2016, ông và bà N đã đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B. Qúa trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu thì lại phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông xin ly hôn với bà N để trả tự do cho nhau.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Trần Nguyên Gia P, sinh ngày 22/12/2005. Ly hôn ông yêu cầu được nuôi dưỡng cháu P và tạm thời không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của ông T, bà N không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó ông T yêu cầu ly hôn với bà N là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: giao cháu Trần Nguyên Gia P, sinh ngày 22/12/2005 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của bà N nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thẩm quyền: Ông T xin ly hôn với bà N có địa chỉ cư trú tại: 196, khu phố 1, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa có thẩm quyền giải quyết.

Veà thuû tuïc toá tuïng: Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà N đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt neân toøa aùn tieán haønh xét xử vắng mặt ông T, bà N theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà N kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo giấy chứng nhận kết hôn số 73 ngày 08/6/2016 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Ông T trình bày: Sau khi xây dựng gia đình với nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu thì sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông xin ly hôn với bà N để trả tự do cho nhau.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bà N đến Tòa làm việc nhưng bà N vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc bà N không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với ông T. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú của ông T, bà N ngày 06/9/2018 thì địa phương cho biết vợ chồng ông T, bà N đã sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay.

Từ đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng ông T, bà N là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T, giải quyết cho ông T được ly hôn với bà N để trả tự do cả hai là phù hợp.

- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Trần Nguyên Gia P, sinh ngày 22/12/2005. Ly hôn ông T yêu cầu được ly hôn cháu P và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà N không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến, cháu P có nguyện vọng được ở với ông T nên giao cháu P cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm thời bà N không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của bà N nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.

- Về án phí: Ông T phải nộp 300.000ñ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Caên cöù vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 233, 235, 266, 271, 273 Boä luaät Toá tuïng daân söï.

Caên cöù vào các Đieàu 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110 Luaät Hoân nhaân vaø gia ñình.

Aùp duïng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của ông Trần Nguyên T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Nguyên T được ly hôn với bà Nguyễn Thị N.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Nguyên Gia P, sinh ngày 22/12/2005 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Vì không trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung nên bà N được quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết ông bà có quyền yêu cầu thay đổi vị trí nuôi các con và mức cấp dưỡng nuôi các con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Trần Nguyên T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên lai thu số 006842 ngày 20/4/2018.

5. Ông Trần Nguyên T và bà Nguyễn Thị N vaéng maët taïi phieân toøa ñöôïc quyeàn khaùng caùo trong haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ