- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐẶNG XUÂN V - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đặng Xuân V 01 (một) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 08/12/2024).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 413/2025/HS-ST Ngày: 01-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.
2. Bà Võ Thị Nam.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 520/2025/HSST ngày 20/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3450/2025/QĐXXST-HS ngày 08/7/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Xuân V; giới tính: nam; sinh năm 1997 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã H, tỉnh Đắk Lắk); nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: nhân viên ngân hàng; trình độ học vấn: Lớp 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Đặng Xuân T và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 08/12/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nishank Shekhar, sinh năm 1982; nơi tạm trú: A N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường S, Thành phố Hồ Chí Minh); hiện đang trú tại Ấn Độ; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài, Đặng Xuân V thông qua ứng dụng “Agoda” giả đặt 01 phòng tại Khách sạn Z, số A N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để đến tìm người có tài sản sơ hở trộm cắp tài sản. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 06/11/2024, V đi bộ đến khách sạn Z thì được bà Đặng Thị T1 là khách thuê trọ tại phòng trọ tập thể, số A N, phường N, Quận A, mở cửa để V đi lên tầng 1. V đặt balo trên giường trống, rồi đi đến khu vực để đồ tập thể thì nhìn thấy ngăn tủ số 6 không khóa, nên V mở tủ và lấy 01 phong bì trong tủ có đựng 1.500 USD (đô la Mỹ) của ông Nishank S quốc tịch C Ấn Độ. Sau khi lấy phong bì thì V bắt xe ôm đi đến địa điểm đổi tiền khu vực chợ B và đổi 1.400 USD được 35.000.000 đồng, còn 01 tờ mệnh giá 100 USD không đổi được do cơ sở đổi tiền kiểm tra là giả, nên V vứt bỏ.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản thì ông Nishank S cùng bà Nguyễn Xuân Uyển M là quản lý Khách sạn Z đến Công an phường N, Quận A trình báo sự việc. Tại đây ông Nishank S khai số tiền bị mất là 1.700 USD (bút lục số 125, số A và số 130).
Qua truy xét, ngày 29/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh triệu tập Đặng Xuân V đến làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, V khai nhận có thực hiện hành vi trộm cắp 1.500 USD của ông Nishank S vào ngày tháng nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 áo thun dài tay màu đen.
- 01 quần ngắn màu trắng - xám.
- 01 đôi dép màu đen - nâu.
- 01 điện thoại di động TECNO CLA5 265GB Seri 127763749D101424 (IMEI 1: 359980251466280, IMEI 2: 359980251466298).
- 01 điện thoại di động Xiaomi HyperOS 128GB (IMEI 1: 864028063180927, IMEI 2: 864028063180935).
Tại Kết luận định giá tài sản số 201/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân D kết luận: “1.500 USD trị giá 36.387.000 đồng, tại thời điểm ngày 06/11/2024” (bút lục số 80 và số 81).
Về trách nhiệm dân sự: Ông Shekhar N yêu cầu bị cáo Đặng Xuân V bồi thường số tiền 1.700 USD, bị cáo chưa bồi thường (bút lục số 129, số A).
Bản Cáo trạng số 384/CT-VKS-P2 ngày 11/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Xuân V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện những hành vi như đã hệ thống tại bản Cáo trạng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đặng Xuân V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và gia đình bị cáo đã nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các điều luật trên để xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy bộ đồ thu giữ của bị cáo và tuyên trả lại 02 chiếc điện thoại cho bị cáo.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đặng Xuân V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng và những chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được, nên có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 06/11/2024, bị cáo đến thuê trọ tại khách sạn Z, mục đích để lấy trộm tài sản của khách vào thuê trọ tại khách sạn này. Sau khi đi vào phòng trọ tập thể ở tầng 1, bị cáo nhìn thấy trong phòng không có ai và ngăn tủ số 6 không khóa thì bị cáo đến mở tủ lấy 01 phong bì có đựng 1.500 USD (đô la Mỹ) mà ông Nishank S, quốc tịch Cộng hòa Ấn Độ để trong tủ. Lấy được phong bì xong thì bị cáo bắt xe ôm về nhà sau đó đi đến địa điểm đổi tiền tại khu vực chợ B và đổi 1.400 USD được 35.000.000 VNĐ, còn 01 tờ mệnh giá 100 USD do cơ sở đổi tiền kiểm tra là giả nên không đổi và bị cáo đã vứt bỏ tờ tiền này.
Theo Kết luận định giá tài sản số 201/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân D thì 1.500 USD tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có trị giá 36.387.000 VNĐ. Do đó, hành vi của bị cáo Đặng Xuân V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo mới phạm tội lần đầu và khung hình phạt được áp dụng không quá 03 năm tù; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình; tại giai đoạn điều tra gia đình bị cáo đã thay mặt bị cáo nộp toàn bộ tiền mà bị cáo trộm cắp để bồi thường cho bị hại, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về áp dụng hình phạt: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không những xâm phạm đến tài sản của ông Nishank S, mà còn làm cho ông Nishank S nói riêng, người nước ngoài nói chung có ấn tượng không tốt đẹp về đất nước và con người Việt Nam. Với tính chất của vụ án như vậy, đáng lẽ phải xử phạt bị cáo mức án như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm này, nhưng xét thấy bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định tại phần [3], nên Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp hơn.
Nhận định trên cũng là lập luận của Hội đồng xét xử chấp nhận một phần lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Về vật chứng của vụ án:
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo:
- 01 áo thun dài tay màu đen.
- 01 quần ngắn màu trắng - xám.
- 01 đôi dép màu đen - nâu.
Đây là đồ dùng cá nhân của bị cáo sử dụng để phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động TECNO CLA5 265GB Seri 127763749D101424 (IMEI 1: 359980251466280, IMEI 2: 359980251466298).
- 01 điện thoại di động Xiaomi HyperOS 128GB (IMEI 1: 864028063180927, IMEI 2: 864028063180935).
Quá trình điều tra không chứng minh được bị cáo dùng 02 chiếc điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội, nên căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có căn cứ xác định tài sản mà bị cáo trộm cắp của ông Nishank S là 1.500 USD. Theo Kết luận định giá tài sản số 201/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân D thì 1.500 USD có trị giá 36.387.000 đồng Việt Nam. Do đó, căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2018 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nishank S, với số tiền 36.387.000 đồng.
Quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã nộp 36.387.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại. Số tiền này được gửi giữ trong tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H mở tại Kho bạc nhà nước Khu vực I1, theo Chứng nhận nộp tiền số 160425.0224.000068 ngày 16/4/2025 tại ngân hàng TMCP N1, nên tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đặng Xuân V 01 (một) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 08/12/2024).
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 áo thun dài tay màu đen.
- 01 quần ngắn màu trắng - xám.
- 01 đôi dép màu đen nâu.
Căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên trả lại cho bị cáo các tài sản sau:
- 01 điện thoại di động TECNO CLA5 265GB Seri 127763749D101424 (IMEI 1: 359980251466280, IMEI 2: 359980251466298). (thực nhận 01 điện thoại di động TECNO không kiểm tra được đời máy, dung lượng, I do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong).
- 01 điện thoại di động Xiaomi HyperOS 128GB (IMEI 1: 864028063180927, IMEI 2: 864028063180935). (màn hình bể, thực nhận 01 điện thoại di động Xiaomi không kiểm tra được đời máy, dung lượng, I do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong).
Các vật chứng đã nêu hiện đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/538 ngày 31/7/2025 được lập giữa Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và PC01 - Công an Thành phố H.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2018 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nishank S với số tiền 36.387.000 (Ba mươi sáu triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn) đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 36.387.000 (Ba mươi sáu triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn) đồng mà gia đình bị cáo đã nộp để đảm bảo cho việc thi hành án phần bồi thường thiệt hại cho bị hại.
(Số tiền trên được gửi giữ trong tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H mở tại Kho bạc nhà nước Khu vực I1, theo Chứng nhận nộp tiền số 160425.0224.000068 ngày 16/4/2025 tại ngân hàng TMCP N1).
Về án phí:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 01/8/2025).
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - Tòa phúc thẩm tại TP.HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - THADS TP.HCM; (1) - Sở tư pháp TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam Chí Hòa – Phân trại tạm (1) giam Khu vực 1; - Đương sự; (1) - THAHS TP.HCM; (1) - Phòng PC53 - CA TP. HCM; (1) - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (21) (8) | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hậu |