- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D xin ly hôn với anh E"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng D
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 413/2021/HNGĐ-ST Ngày: 29/12/2021 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng.
Các Hội thẩm nhân nhân dân: 1. Ông Trương Hoàng Hoa
2. Ông Nguyễn Quốc Thuần
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh- KSV.
Ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 251/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2021 và quyết định hoãn phiên toà số 151/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07/12/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã C, huyện A, Tiền Giang.
2. Bị đơn:
Nguyễn Văn E, sinh năm 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp B, xã C, huyện A, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn ly hôn, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng D trình bày: Chị và anh E tìm hiểu và tự nguyện cưới nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 225 ngày 23/12/2004. Quá trình anh chị sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên tranh cải, anh E không quan tâm chăm sóc vợ con và sống ly thân từ tháng 5/2021 đến nay, nay chị nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, không khả năng hàn gắn, tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh E.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh F, sinh ngày 30/10/2005 và Nguyễn Thị Huỳnh G, sinh ngày 08/8/2011 chị D yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh E cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn E từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng anh E vẫn vắng mặt không rõ lý do và không trình bày ý kiến của mình.
* Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Hồng D vẫn giữ y yêu cầu khởi kiện cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn E.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh F, sinh ngày 30/10/2005 và Nguyễn Thị Huỳnh G, sinh ngày 08/8/2011. Hiện con chung đang sống với chị nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh E cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân chị D và anh E mâu thuẩn trầm trọng, sống ly thân từ tháng 05/2021 nhưng không thể hàn gắn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị D ly hôn với anh E.
+ Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh F, sinh ngày 30/10/2005 và Nguyễn Thị Huỳnh G, sinh ngày 08/8/2011. Hai con chung có nguyện vọng được sống với chị D, để đảm bảo cuộc sống ổn định nên cần tiếp tục giao 02 con chung cho chị D nuôi dưỡng. Anh E không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Căn cứ vào yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng D về việc tranh chấp “ly hôn” với anh Nguyễn Văn E thuộc trường hợp được qui định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.
Về hôn nhân: Qua lời trình bày của Nguyễn Thị Hồng D Hội đồng xét xử nhận định:
Chị và anh E tìm hiểu và tự nguyện cưới nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã C, huyện A cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 23/12/2004. Quá trình anh chị sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên tranh cải, anh E thường xuyên uống bia rượu không quan tâm vợ con và sống ly thân từ tháng 05/2021 đến nay, nay chị nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, không khả năng hàn gắn, tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh E. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh E nhưng anh vẫn không đến tham dự phiên tòa và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu xin ly hôn của chị D, điều đó chứng tỏ anh E không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh E và chị D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị D là phù hợp với qui định của pháp luật do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh F, sinh ngày 30/10/2005 và Nguyễn Thị Huỳnh Như, sinh ngày 08/8/2011. Hai cháu còn nguyện vọng được sống với mẹ, hiện 02 con chung do chị D chăm sóc nuôi dưỡng, có cuộc sống ổn định, phát triển tốt do đó cần thiết giao 02 con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh E không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Đối với anh Nguyễn Văn E, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh vẫn vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh E.
Từ những nhận định trên và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu quan điểm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, Điều 80, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về áp dụng án phí, lệ phí.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng D
[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Văn E.
[2] Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh F, sinh ngày 30/10/2005 và Nguyễn Thị Huỳnh Như, sinh ngày 08/8/2011 cho chị Nguyễn Thị Hồng D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh E không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu.
[3] Về tài sản chung:Tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng D phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị D đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0004954 ngày 08/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Tiền Giang nên chị đã thi hành xong.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Anh Nguyễn Văn E được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND Tỉnh TG; -VKSNDHCG-TG -Chi cục THADSHCG; -Những người tham gia tố tụng; -Lưu. | ( Đã ký) Nguyễn Thị Ánh Hồng |