vanban.org

Bản án 412/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Y phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Y 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/12/2019 đến ngày 20/02/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 201… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị Y phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Y phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 412/2020/HS-ST
Ngày 24- 9- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2020 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 278/2020/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 398/2020/HSST-QĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020, đối với bị cáo:

Hoàng Thị Y, sinh năm 1994; tại tỉnh Bình Phước; thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Hoàng Văn P, sinh năm: 1969 và bà Hoàng Thị T, sinh năm: 1969; có 02 anh em ruột, lớn sinh năm: 1992, nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 04/12/2019 đến ngày 20/02/2020, do Yến đang mang thai nên được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang biện pháp bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Lê Thanh D, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; vắng mặt.

2. Trương Thị Thanh T, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh

Đồng Nai; vắng mặt.

3. Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1986; địa chỉ: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.

4. Ngô Trọng C, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn S, xã D, huyện D, tỉnh Khánh

Hòa; vắng mặt.

5. Nguyễn Văn M, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Bắc

Giang; vắng mặt.

6. Đào Ngọc Thái, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc

Ninh; vắng mặt.

7. Đỗ Thị Lam P, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

8. Lê Hoàng H, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.

9. Trần Quốc B, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt.

10. Lê Phúc B, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

vắng mặt.

11. Nguyễn Hồng H, sinh năm 1986; địa chỉ: thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

12. Lê Thị Phương M, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.

13. Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1988; địa chỉ: thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc

Trăng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Phạm Đoàn Anh K, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.

2. Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến

Tre; vắng mặt.

3. Lưu Thị Diễm L, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên

Giang; vắng mặt.

4. Hoàng Thị Li S, sinh năm 1994; địa chỉ: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

5. Hoàng Thị H, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thị Y làm nghề buôn bán quần áo online qua mạng xã hội Facebook từ tháng 06/2019 và sống cùng chồng Phạm Đoàn Anh K, tại đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Y bán hàng trên mạng xã hội thời gian dài nên biết được tâm lý của khách hàng muốn mua hàng trên mạng vì mua hàng trên mạng rẻ hơn đến mua trực tiếp tại các của hàng và thường khách hàng sẽ chuyển khoản thanh toán trước khi giao hàng. Khoảng tháng 08/2019, Hoàng Thị Y sử dụng Ipad Pro 10.5 inches màu vàng- trắng 64Gb nhãn hiệu Apple cùng sim số 0326158724 để lập tài khoản Facebook bằng nhiều tên khác nhau cụ thể là: “Nguyễn Thị Mỹ D”, “G”, “N”. Sau đó, Y sử dụng hình ảnh bàn ghế, hải sản (tôm hùm, ốc hương…) để tạo thông tin giả, đăng các bài viết bán các mặt hàng trên với giá rẻ, nhưng thực tế Y không có các mặt hàng này. Khi có khách liên lạc thỏa thuận mua hàng, Y yêu cầu khách hàng chuyển tiền thanh toán trước vào các tài khoản do Y mua trên mạng xã hội hoặc lợi dụng các tài khoản của chồng, em ruột, người quen để nhận tiền của khách hàng, sau khi nhận được tiền của khách hàng xong thì Y chặn liên lạc, rút tiêu xài cá nhân.

Yến khai nhận đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại, cụ thể:

Vụ nhứ nhất: Ngày 27/8/2019, anh Lê Thanh D, sử dụng tài khoản Facebook “DL” vào trang Facebook “Chợ hải sản Sài Gòn”, thấy Facebook “G” do Y làm chủ tài khoản có đăng thông tin bán tôm hùm giá rẻ. Anh D nhắn tin thỏa thuận với Y mua 20 kg tôm hùm với giá 280.000 đồng/kg, thành tiền là 5.600.000 đồng.

Y yêu cầu anh D chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Vietcombank, số tài khoản 0461000522379 của chồng là Phạm Đoàn Anh K và hứa hẹn sẽ chuyển tôm cho anh D. Ngày 28/8/2019, anh D dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 5.600.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Techcombank, số tài khoản 19032700737012 mang tên Lê Thanh D vào tài khoản của Phạm Đoàn Anh K. Y không giao tôm cho anh D mà chặn liên lạc với anh D và lấy thẻ ATM của anh K rút hết số tiền trên.

Vụ thứ hai: Ngày 07/09/2019, chị Trương Thị Thanh T, sử dụng tài khoản Facebook “Th” lên mạng xã hội tìm mua hải sản thì thấy Facebook “G” do Y làm chủ tài khoản đăng thông tin bán hải sản. Chị T nhắn tin thỏa thuận mua 10 kg tôm hùm và 10kg ốc hương với tổng số tiền là 4.600.000 đồng, chị T chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Vietcombank, số tài khoản 0461000522379 mang tên Phạm Đoàn Anh K và hẹn đến ngày 08/09/2019 sẽ giao hàng cho chị T. Chị T dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 4.600.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Vietcombank 08710004211909 mang tên Trương Thị Thanh T vào tài khoản của Phạm Đoàn Anh K. Sau khi nhận tiền, Y không giao hàng mà chặn liên lạc với chị T và lấy thẻ ATM của anh K rút hết số tiền trên.

Vụ thứ ba: Khoảng 22 giờ ngày 13/9/2019, chị Trần Thị Mỹ N, sử dụng tài khoản Facebook “Tu” vào trang Facebook “Chợ hải sản Đầu Mối” để tìm, thì thấy Facebook “N” do Y làm chủ tài khoản đăng thông tin bán hải sản giá rẻ. Chị N nhắn tin với Y để thỏa thuận mua 10 kg tôm hùm với giá 400.000 đồng/kg và 10kg ốc hương với giá 150.000 đồng/kg, tổng số tiền là 5.500.000 đồng. Chị N chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Vietcombank, số tài khoản 0461000522379 mang tên Phạm Đoàn Anh K và hứa hẹn sẽ giao hàng ngay sau khi nhận tiền. Ngày 14/9/2019, chị N dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 5.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Techcombank 19033515942013 mang tên Trần Thị Mỹ N vào tài khoản của Phạm Đoàn Anh K. Y nhận được tiền không giao hàng, mà chặn liên lạc với chị N, đồng thời lấy thẻ ATM của anh K rút hết số tiền trên.

Vụ thứ tư: Do cần tìm nguồn hàng để kinh doanh quán ăn hải sản “C” tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; ngày 19/9/2019, anh Ngô Trọng C, sử dụng tài khoản Facebook “C” vào trang Facebook “H” để xem thông tin thì thấy Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y lập làm chủ tài khoản có đăng thông tin bán tôm hùm giá rẻ. Anh C nhắn tin thỏa thuận với Y mua 10 kg tôm hùm tươi giá 350.000 đồng/kg và 10 kg tôm hùm sống giá 500.000 đồng/kg, tổng số tiền là 8.500.000 đồng. Y yêu cầu anh C chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Vietinbank 103870431753, chủ tài khoản là Nguyễn Đình D và hứa sẽ chuyển tôm cho anh C. Ngày 20/9/2019, anh C cho nhân viên quán là Nguyễn Thị Thu T đến ngân hàng Vietinbank chi nhánh Biên Hòa nộp 8.500.000 đồng. Sau khi nhận được tiền của anh C, Y không giao tôm mà chặn liên lạc để chiếm đoạt số tiền trên.

Đối với tài khoản ngân hàng Vietinbank 103870431753, qua xác minh chủ tài khoản là Nguyễn Đình D, sinh năm: 1994, thường trú: thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên qua xác minh, xác định tại địa phương không có người tên Nguyễn Đình D. Y khai nhận trong tháng 9/2019, đã đặt mua 01 thẻ ATM của ngân hàng Vietinbank có sẵn mật khẩu thẻ là “555555”, có sẵn số tài khoản là 103870431753 từ 01 đối tượng không rõ nhân thân lai lịch và để sử dụng giao dịch rút tiền khi bị hại chuyển tiền vào.

Vụ thứ năm: Ngày 28/09/2019, anh Nguyễn Văn M, sử dụng tài khoản Facebook “M” truy cập thì thấy Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản đăng thông tin, hình ảnh bán hải sản, anh M nhắn tin thỏa thuận mua 10 kg tôm hùm với giá 3.160.000 đồng. Anh M chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Vietinbank 103870431753 mang tên Nguyễn Đình D và hứa hẹn sẽ giao tôm hùm. Ngày 30/9/2019, anh M dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 3.160.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Vietcombank 0351001084404 mang tên Giáp Đình H vào tài khoản nói trên. Sau khi nhận được tiền, Y không giao tôm mà chặn liên lạc với anh M, đồng thời sử dụng thẻ ATM mang tên Nguyễn Đình D để rút tiền.

Đối với thẻ ATM mang tên Nguyễn Đình D, khoảng cuối tháng 10/2019, Y cho 01 người không rõ nhân thân, lai lịch nên không thu hồi được.

Vụ thứ sáu: Khoảng đầu tháng 10/2019, anh Đào Ngọc T sử dụng tài khoản Facebook “Thu” nhắn tin với Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản để thỏa thuận mua 25 kg tôm hùm với giá 15.450.000 đồng, Y yêu cầu anh T chuyển tiền thanh toán trước vào 02 tài khoản ngân hàng Sacombank 070042612322 và tài khoản ngân hàng Vietcombank 0441000734403 rồi sẽ giao tôm: ngày 18/10/2019, anh T dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 9.300.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Techcombank 19034539246014 mang tên Đào Ngọc T vào tài khoản ngân hàng Sacombank 070042612322; đến ngày 19/10/2019, anh T tiếp tục chuyển 6.150.000 đồng vào tài khoản mang tên Nguyễn Trần Mỹ P. Sau khi nhận tiền, Y chặn liên lạc với anh T.

Đối với tài khoản ngân hàng Sacombank 070042612322, qua xác minh chủ tài khoản là Nguyễn Văn M, sinh năm: 1989, thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Long xác định hiện tại anh M không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu. Y khai nhận trong tháng 10/2019 đã đặt mua 01 thẻ ATM của ngân hàng Sacombank có sẵn mật khẩu thẻ là “555555”, có sẵn số tài khoản là 070042612322 từ 01 đối tượng không rõ nhân thân lai lịch.

Đối với tài khoản ngân hàng Vietcombank 0441000734403, quá trình điều tra xác định chủ tài khoản là Nguyễn Trần Mỹ P, sinh năm: 1996, thường trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre. Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định: chị P làm nghề buôn bán hàng online, có quen biết với Y do trước đây đã từng giao dịch mua bán quần áo. Sau khi anh T chuyển 6.150.000 đồng vào tài khoản của chị P thì Y liên lạc để xin nhận lại số tiền này và bịa đặt lý do khách hàng chuyển nhầm. Do tin tưởng nên ngày 21/10/2019, chị P dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 6.150.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Vietcombank 0441000734403 mang tên Nguyễn Trần Mỹ P vào tài khoản ngân hàng Vietcombank 0461000522379 mang tên Phạm Đoàn Anh K. Sau đó, Y sử dụng thẻ ATM của anh K rút hết số tiền trên.

Vụ thứ bảy: Khoảng 10 giờ ngày 08/10/2019, chị Đỗ Thị Lam P, sử dụng tài khoản Facebook “Đỗ Thị Lam P” truy cập vào Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản để thỏa thuận mua tôm hùm. chị P thỏa thuận mua 10kg tôm hùm loại to với giá 3.120.000 đồng, Y yêu cầu chị P chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Sacombank 070042612322 mang tên Nguyễn Văn M. Chị P dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 3.120.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Sacombank 050064427005 mang tên Đỗ Thị Lam P vào tài khoản của Nguyễn Văn M.

Đến ngày 10/10/2019, chị P tiếp tục thỏa thuận với Y để mua thêm 05 kg tôm hùm loại nhỏ với giá 950.000 đồng và chuyển thêm số tiền 950.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Văn M.

Sau khi nhận được tiền, Y chặn liên lạc với chị P, không giao tôm, đồng thời sử dụng thẻ ATM mang tên Nguyễn Văn M để rút hết số tiền trên.

Vụ thứ tám: Khoảng 12 giờ ngày 14/10/2019, anh Lê Hoàng H, sử dụng tài khoản Facebook “Lê” truy cập vào Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản để thỏa thuận mua 03 kg tôm hùm ngộp với giá 780.000 đồng. Y yêu cầu anh H chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Sacombank 070042612322 mang tên Nguyễn Văn M, hứa hẹn sẽ giao tôm cho anh H. Ngày 15/10/2019, anh H đến cửa hàng Viettel tại thành phố Cà Mau làm thủ tục chuyển 780.000 đồng vào tài khoản nói trên. Sau khi anh H chuyển tiền, Yến chặn liên lạc, không giao tôm cho anh H. Yến dùng thẻ ATM mang tên Nguyễn Văn M để rút hết số tiền trên.

Đến cuối tháng 10/2019, Yến vứt bỏ thẻ ATM mang tên Nguyễn Văn M nên không thu hồi được.

Vụ thứ chín: Khoảng 17 giờ ngày 22/10/2019, anh Trần Quốc B, sử dụng tài khoản Facebook “Bk” truy cập vào Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản để thỏa thuận mua 10kg tôm hùm với tổng số tiền là 4.528.000 đồng. Y yêu cầu anh B chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Vietcombank 0281000517035 rồi hứa hẹn sẽ giao tôm. Ngày 23/10/2019, anh B nhờ chị ruột là Trần Thị C, sinh năm: 1986 đến ngân hàng Agribank chi nhánh G, tỉnh Tiền Giang làm thủ tục nộp 4.528.000 đồng vào tài khoản trên. Sau khi anh B chuyển khoản, Y chặn liên lạc, không giao tôm cho anh B.

Đối với tài khoản ngân hàng Vietcombank 0281000517035 qua xác minh chủ tài khoản là Lưu Thị Diễm L, sinh năm: 1987, thường trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Xác định: chị L làm nghề mua bán quần áo online, trước đây đã từng giao dịch mua bán với Y. Sau khi bị hại chuyển tiền thì đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Y nhắn tin cho chị L nói dối việc chồng của Y là Phạm Đoàn Anh K chuyển nhầm số tiền 4.528.000 đồng nên nhờ chị L chuyển trả lại vào tài khoản ngân hàng Vietcombank 0461000522379 mang tên Phạm Đoàn Anh K. Sau đó, chị L dùng ứng dụng Internet Banking chuyển số tiền 4.528.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Vietcombank 0281000517035 mang tên Lưu Thị Diễm L vào tài khoản của Phạm Đoàn Anh K. Y sử dụng thẻ ATM của anh K để rút hết số tiền trên.

Vụ thứ mười: Ngày 06/11/2019, anh Lê Phúc B, sử dụng tài khoản Facebook “BL” vào trang Facebook “Hội mua bán hàng thanh lý bàn ghế” tìm mua bàn ghế để sử dụng thì thấy Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản đăng thông tin bán bàn ghế. Anh B nhắn tin thỏa thuận mua 55 ghế và 15 bộ bàn ghế cũ với giá 6.000.000 đồng thì Y yêu cầu anh B chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Sacombank 060156609741 rồi sẽ giao hàng sau cho anh B. Đến tối cùng ngày, anh B dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 6.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Vietcombank 0121000773964 mang tên Lê Phúc B vào tài khoản nói trên. Y nhận được tiền và chặn liên lạc, không giao bàn ghế cho anh B.

Đối với tài khoản ngân hàng Sacombank 060156609741 qua xác minh chủ tài khoản là Hoàng Thị Li S, sinh năm: 1994, thường trú: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Xác định: chị S làm nghề buôn bán quần áo online, trước đây đã từng giao dịch mua bán với Y. Sau khi bị hại chuyển tiền thì cùng ngày, Y nhắn tin cho chị S với nói dối việc chồng của Y là Phạm Đoàn Anh K chuyển nhầm số tiền 6.000.000 đồng nên nhờ chị S chuyển trả lại vào tài khoản ngân hàng Vietcombank 0461000522379 mang tên Phạm Đoàn Anh K. Chị Sa dùng ứng dụng Internet Banking chuyển số tiền 6.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Vietcombank 0911000026334 mang tên Hoàng Thị Li S vào tài khoản của Phạm Đoàn Anh K. Y sử dụng thẻ ATM của anh K để rút hết số tiền trên.

Vụ thứ mười một: Khoảng 19 giờ ngày 12/11/2019, anh Nguyễn Hồng H, sử dụng tài khoản Facebook “Huu” vào trang Facebook “Hội thanh lý đồ cũ” thấy Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản đăng thông tin bán bàn ghế. Sau khi nhắn tin thỏa thuận mua 115 cái ghế cũ với giá 9.700.000 đồng, anh H chuyển tiền thanh toán trước 50% vào tài khoản ngân hàng Agribank 5612205091465 của em ruột là Hoàng Thị H, sinh năm: 1996, thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước, rồi hứa hẹn sẽ chuyển ghế. Ngày 13/11/2019, anh H dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 4.700.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Vietcombank 0721000572296 mang tên Nguyễn Hồng H vào tài khoản của Hoàng Thị H. Y nhận được tiền, Y không giao ghế mà chặn liên lạc liên lạc với anh H, nói với H khách hàng chuyển khoản để mua quần áo rồi nhờ H chuyển trả lại vào tài khoản của Phạm Đoàn Anh K. Y sử dụng thẻ ATM của anh K để rút số tiền trên.

Vụ thứ mười hai: Chị Lê Thị Phương M, làm kinh doanh quán ăn hải sản nên ngày 13/11/2019, chị M sử dụng tài khoản Facebook “Lê Thị Phương M” vào trang Facebook “Chợ hải sản đầu mối Bình Điền” thì thấy Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản đăng thông tin bán hải sản. Chị M và Y nhắn tin thỏa thuận mua bán 10 kg ốc hương với giá 1.500.000 đồng, chị M chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Agribank 5612205091465 mang tên Hoàng Thị H và hẹn đến ngày 14/11/2019 Yến sẽ giao ốc hương cho chị M. Chị M, cùng ngày 13/11/2019 chị M dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 1.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Techcombank 19033043346012 mang tên Lê Thị Phương M vào tài khoản của Hoàng Thị H. Nhận được tiền, Y không giao ốc mà chặn liên lạc với chị M. Biết có tiền chị M chuyển vào tài khoản của Hoàng Thị H nên Y nói dối với Hoàng Thị H về việc khách hàng chuyển khoản để mua quần áo rồi nhờ H chuyển trả lại vào tài khoản của Phạm Đoàn Anh K. Sau đó, Y sử dụng thẻ ATM của anh K để rút hết số tiền trên.

Vụ thứ mười ba: Do có nhu cầu mở quán cà phê nên vào khoảng 15 giờ ngày 13/11/2019, chị Nguyễn Thị Cẩm H, sử dụng tài khoản Facebook “Huong” vào trang Facebook “Hội mua bán bàn ghế cũ thành phố Hồ Chí Minh” để xem thông tin thì thấy Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” do Y làm chủ tài khoản đăng thông tin, hình ảnh bán bàn ghế. Chị H nhắn tin thỏa thuận mua 30 cái ghế cũ với giá 2.700.000 đồng thì Y yêu cầu chuyển tiền thanh toán trước vào tài khoản ngân hàng Agribank 5612205091465 mang tên Hoàng Thị H rồi hứa hẹn sẽ chuyển ghế. Cùng ngày, chị H dùng ứng dụng Internet Banking chuyển 2.700.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Agribank 7603215011979 mang tên Nguyễn Thị Cẩm H vào tài khoản của Hoàng Thị H. Nhận được tiền, Y không chuyển ghế mà chặn liên lạc với chị H, nói với H khách chuyển tiền mua hàng để nhờ H chuyển trả lại vào tài khoản của Phạm Đoàn Anh K. Sau đó, Y sử dụng thẻ ATM của anh K để rút hết số tiền trên.

Như vậy tổng số tiền Y chiếm đoạt của 13 bị hại trên là 67.088.000 đồng.

Sau khi chuyển tiền cho Y không nhận được hàng và bị Y chặn liên lạc nên ngày 26/11/2019, anh Lê Phúc B, Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Phương M, Trương Thị Thanh T đến Công an phường T trình báo sự việc bị Y chiếm đoạt tài sản. Cùng ngày, Hoàng Thị Y đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng tạm giữ trong vụ án:

+ 01 máy tính bảng (Ipad) Pro 10.5 inches màu vàng trắng nhãn hiệu Apple. Sim số 0326158724

+ 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, số thẻ 9704366810763455027 mang tên Phạm Đoàn Anh Khoa.

Tại kết luận định giá tài sản số 304/BB.ĐG ngày 30/12/2019 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An:

- Máy tính bảng (Ipad) Pro 10.5 inches màu vàng trắng 64Gb nhãn hiệu Apple có trị giá: 10.000.000 đồng.

Đối với anh Phạm Đoàn Anh K, chị Hoàng Thị H, Hoàng Thị Li S, Lưu Thị Diễm L là các chủ tài khoản ngân hàng, Y nhờ để cho khách hàng chuyển tiền vào. Anh Phạm Đoàn Anh K, chị Hoàng Thị H, Hoàng Thị Li S, Lưu Thị Diễm L không biết và không phụ giúp Y khi Y thực hiện hành vi phạm tội nên không đề nghị xử lý là có cơ sở.

Tại cáo trạng số: 309/CT–VKS ngày 30 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hoàng Thị Y về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Hoàng Thị Y mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;

Về trách nhiệm dân sự: Trương Thị Thanh T yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 4.600.000 đồng, Trần Thị Mỹ N yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 5.500.000 đồng, Ngô Trọng C yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 8.500.000 đồng, Nguyễn Văn M yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 3.160.000 đồng, Trần Quốc B yêu cầu Yến trả lại số tiền đã chiếm đoạt 4.528.000 đồng, Lê Phúc B yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 6.000.000 đồng, Nguyễn Hồng H yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 4.700.000 đồng, Lê Thị Phương M yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 1.500.000 đồng, Nguyễn Thị Cẩm H yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 2.700.000 đồng, Lê Thanh D yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 5.600.000 đồng, Đào Ngọc T yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 15.450.000 đồng, Đỗ Thị Lam P yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 4.070.000 đồng, Lê Hoàng H yêu cầu Y trả lại số tiền đã chiếm đoạt 780.000 đồng nên buộc Hoàng Thị Y có trách nhiệm bồi thường cho 13 bị hại trong vụ án.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với máy tính bảng (Ipad) Pro 10.5 inches màu vàng trắng 64Gb nhãn hiệu Apple là tài sản chung của Y và chồng là Phạm Đoàn Anh K, nên đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị tài sản.

Trả lại cho anh Phạm Đoàn Anh K ½ giá trị máy tính bảng (Ipad) Pro 10.5 inches màu vàng trắng 64Gb nhãn hiệu Apple.

- Đối với thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, số tài khoản 0461000522379 mang tên Phạm Đoàn Anh K và sim Ipad số 0326158724 là phương tiện phạm tội, đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Từ ngày 27/8/2019 đến ngày 13/11/2019 Hoàng Thị Y có hành vi dùng thủ đoạn gian dối tại địa chỉ khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, sử dụng Ipad Pro 10.5 inches màu vàng trắng 64Gb nhãn hiệu Apple cùng sim số 0326158724 để lập tài khoản Facebook bằng nhiều tên khác nhau để bán hàng online lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại Trương Thị Thanh T, Trần Thị Mỹ N, Ngô Trọng C, Nguyễn Văn M, Trần Quốc B, Lê Phúc B, Nguyễn Hồng H, Lê Thị Phương M, Nguyễn Thị Cẩm H, Lê Thanh D, Đào Ngọc T, Đỗ Thị Lam P, Lê Hoàng H với tổng số tiền 67.088.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy Cáo trạng số: 309/CT–VKS ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Hoàng Thị Y là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị đơn dân sự được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi mong muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội trong thời gian mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi; bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc Hoàng Thị Y có trách nhiệm bồi thường cho 13 bị hại, gồm: Trương Thị Thanh T số tiền 4.600.000 đồng, Trần Thị Mỹ N số tiền 5.500.000 đồng, Ngô Trọng C số tiền 8.500.000 đồng, Nguyễn Văn M số tiền 3.160.000 đồng, Trần Quốc B số tiền 4.528.000 đồng, Lê Phúc B số tiền 6.000.000 đồng, Nguyễn Hồng H số tiền 4.700.000 đồng, Lê Thị Phương M số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Thị Cẩm H số tiền 2.700.000 đồng, Lê Thanh D số tiền 5.600.000 đồng, Đào Ngọc T số tiền 15.450.000 đồng, Đỗ Thị Lam P số tiền 4.070.000 đồng, Lê Hoàng H số tiền 780.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với máy tính bảng (Ipad) Pro 10.5 inches màu vàng trắng 64Gb nhãn hiệu Apple là tài sản chung của Yến và chồng là Phạm Đoàn Anh K, tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị tài sản.

Trả lại cho anh Phạm Đoàn Anh K ½ giá trị máy tính bảng (Ipad) Pro 10.5 inches màu vàng trắng 64Gb nhãn hiệu Apple.

- Đối với thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, số tài khoản 0461000522379 mang tên Phạm Đoàn Anh K và sim Ipad số 0326158724 là phương tiện phạm tội, đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Y phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Y 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/12/2019 đến ngày 20/02/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị tài sản: máy tính bảng (Ipad) Pro 10.5 inches màu vàng trắng 64Gb nhãn hiệu Apple.

Trả lại cho anh Phạm Đoàn Anh K ½ giá trị máy tính bảng (Ipad) Pro 10.5 inches màu vàng trắng 64Gb nhãn hiệu Apple.

- Tịch thu, tiêu hủy: thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, số thẻ 0461000522379 mang tên Phạm Đoàn Anh K và sim Ipad số 0326158724.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357, 468 và 584 Bộ luật Dân sự.

Buộc Hoàng Thị Y có trách nhiệm bồi thường cho 13 bị hại, gồm: Trương Thị Thanh T số tiền 4.600.000 đồng, Trần Thị Mỹ N số tiền 5.500.000 đồng, Ngô Trọng C số tiền 8.500.000 đồng, Nguyễn Văn M số tiền 3.160.000 đồng, Trần Quốc B số tiền 4.528.000 đồng, Lê Phúc B số tiền 6.000.000 đồng, Nguyễn Hồng H số tiền 4.700.000 đồng, Lê Thị Phương M số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Thị Cẩm H số tiền 2.700.000 đồng, Lê Thanh D số tiền 5.600.000 đồng, Đào Ngọc T số tiền 15.450.000 đồng, Đỗ Thị Lam P số tiền 4.070.000 đồng, Lê Hoàng H số tiền 780.000 đồng.

4. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Thị Y phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.354.400 đồng (ba triệu ba trăm năm mươi bốn nghìn bốn trăm đồng) đồng án phí dân sự.

Bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ