vanban.org

Bản án 412/2019/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 28/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí phúc thẩm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "YN Niê - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí phúc thẩm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 412/2019/HSPT
Ngày: 28-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Cường

Các thẩm phán:

Ông Trần Minh Tuấn

Ông Nguyễn Văn Tào

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân, Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 362/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2019 đối vớ

YN Niê về tội “Giết người”. Do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 19/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:

YN Niê (tên gọi khác: A); sinh ngày 12/01/1965, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Làm nông. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Ê đê, Tôn giáo: Tin Lành; trình độ học vấn: 09/12; con ông Y (đã chết) và bà H (đã chết); bị cáo có vợ là H và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2019 cho đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người bị hại: Bà HJ, sinh năm 1953 (chết).

- Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà HĐ, sinh năm 1994, Nơi cư trú: B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông YS Hđớk, sinh năm 1994; nơi cư trú: B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

Người phiên dịch: ông Y. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07h sáng ngày 02/3/2019, bà HJ cùng hai con là YS H’Đơk và HD mang theo thước dây đến thửa đất của gia đình mình ở trục lộ 4, B, phường T, TP. B, tỉnh Đắk Lắk đo đất để xác định ranh giới giữa lô đất giữa của bà HJ với đất ông YN Niê (là em rể của bà HJ). Khi YS và HĐ đang đo đất thì YN Niê nhìn thấy, do nghi ngờ YS và HĐ đo lấn sang phần đất của minh nên YN Niê đến cãi nhau với YS và HĐ. Lúc này, ông Nguyễn Văn M là Buôn trưởng B, chứng kiến mọi việc đã khuyên hai bên nên bà HJ HĐơk đi về. Đến khoảng 09h1 5’ cùng ngày, bà HJ đến nhà YN chửi bới thì bị YN dùng tay đẩy bà HJ đi về. Bà HJ HĐơk nói: “Mày tưởng mày to mà tao sợ à”, bà HJ thách thức YN Niê đánh mình. Lúc này, YN Niê đi đến gốc cà phê lấy 01 cây gậy tre dài 1,51m đường kính chỗ lớn nhất là 3,5cm bằng tay phải đi đến đứng đối diện cách bà HJ H Đơk khoảng 01 m rồi dùng gậy tre đánh vào đùi trái của bà HJ thì bà HJ càng chửi to và thách thức YN Niê đánh chết mình. Do bực tức nên YN Niê dùng gậy tre đánh 02 cái từ trên xuống trúng vào vùng đầu của bà HJ. Bà HJ ôm đầu ngồi xuống nhưng vẫn chửi YN, còn YN bỏ gậy tre lại hiện trường rồi đi vào nhà.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 97/PY-T.Thi, ngày 08/3/2019 kết luận nguyên nhân tử vong của bà HJ HĐơk: Hôn mê, suy hô hấp cấp do chấn thương sọ não, nứt sọ, tụ máu nội sọ. Vật tác động: Cứng, tày.

Cáo trạng số 56/CT-VKS-P2 ngày 23/7/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo YN Niê về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.

55/2019/HS-ST ngày 19/9/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Tuyên bố: Bị cáo YN Niê (tên gọi khác: A) phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo YN Niê (tên gọi khác: A Ma Bên) 18 (Mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/3/2019.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/9/2019 bị cáo YN Niê kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo cho rằng Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 18 năm tù là quá nghiêm khắc, vụ án xảy ra có lỗi của người bị hại, chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của phía bị hại và đã bồi thường được 30.000.000 đồng và phía bị hại tiếp tục xin giảm hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của người bào chữa và quan điểm của Viện kiểm sát, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như:

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo YN Niê thừa nhận hành vi và tội danh như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, chỉ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Chỉ vì mâu thuẫn về việc xác định ranh giới đất nên khoảng 09 giờ 15 phút ngày 02/3/2019, YN Niê đã dùng 01 gậy tre đánh 01 cái vào đùi trái và 02 cái vào vùng đầu của bà HJ HĐớk. Hậu quả làm bà HJ Hđớk tử vong. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo bị cáo YN Niê về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng là “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, cấp phúc thẩm thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, bị cáo nhận thức được rằng tính mạng của con người là vốn quí, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng của người khác đều sẽ bị xử lý theo pháp luật hình sự, song chỉ vì từ việc nghi ngờ chị vợ và các con của chị vợ đến đo đất lấn sang đất của gia đình mình nên bị cáo đã ra chửi và đuổi 03 mẹ con bà H’ Juang về không cho đo đất, vì không đo được đất và do em rể là YN chửi trước nên bà HJ bực tức quay lại chửi bị cáo thì bị cáo xô đẩy bà H’ Juang đi về nhưng bà HJ vẫn chửi thì bị cáo dùng cây đánh vào chân bà HJ, mặc dù thấy bà H’ Juang đã bị đánh và ngồi xuống đồng thời không chống trả lại nhưng bị cáo vẫn dùng cây đánh liên tiếp 02 cái vào đầu của người bị hại. Điều đó thể hiện tính chất côn đồ của bị cáo nên Toà án cấp sơ thẩm bị cáo theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Khi xét xử sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, trình độ học vấn thấp; sau khi gây án, bị cáo tác động gia đình đã bồi thường cho người bị hại 25.000.000đồng, 01 con heo (trị giá 3.900.000đ) và 01 cái chăn (trị giá 200.000đ). Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và tuyên mức án 18 năm tù là phù hợp. Mặc dù tại phiên toà phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng để đáp ứng yêu cầu đấu tranh tội phạm xâm phạm tính mạng xảy ra trong giai đoạn hiện nay và xét tính chất hành vi, hậu quả vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần thiết phải giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung loại tội phạm này.

Quan điểm của người bào chữa không được Hội đồng xét xử chấp nhận; Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Từ phân tích trên thấy kháng cáo của bị cáo không có cơ sở nên không được chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Về án phí phúc thẩm hình sự: Mặc dù kháng cáo không được chấp nhận nhưng bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại Nghị quyết 325/2016/NQ-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

Các quyết dịnh khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo YN Niê ( tên gọi khác: A), giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo YN Niê ( tên gọi khác: A) 18 (Mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/3/2019.

Về án phí phúc thẩm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo YN Niê.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ