- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Văn T - Lê Thị Đ"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 412/2017/HNGĐ-ST Ngày: 18/8/ 2017 V/v: “Không công nhận vợ chồng giữa: anh T và chị Đ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chót
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 408/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2017 về việc: “Không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2169/2017/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đoàn Văn T, sinh năm: 1971;
2. Bị đơn: Lê Thị Đ, sinh năm: 1973.
Cùng địa chỉ: số nhà 141/2, ấp A, xã N, huyện P, tỉnh Bến Tre.
(Tất cả có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2017, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn Đoàn Văn T trình bày:
Anh và chị Lê Thị Đ tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống anh và chị Đ có cuộc sống hạnh phúc nhưng đến những năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị Đ thường xuyên đi chơi, về nhà thì đập phá đồ đạc mà không lo làm ăn phụ giúp gia đình. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị Đ nên yêu cầu Tòa giải quyết không công nhận anh và chị Lê Thị Đ là vợ chồng.
Về con chung: có một con chung tên Đoàn Văn Hoài, sinh ngày 20/6/1996 đã trưởng thành, anh không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Anh và chị Đ tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh và chị Đ không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên Tòa bị đơn Lê Thị Đ trình bày:
Chị và anh ĐoànVăn T tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 1995 nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới chị và anhT sống chung rất hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thì giữa chị và anh T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T thường xuyên chửi bới, ghen tuông vô cớ, anh T cho rằng trong thời gian chung sống chị thường xuyên đi chơi không lo phụ giúp gia đình và thường đập phá đồ đạc trong nhà như anh T trình bày là không có. Nay anh T yêu cầu không công nhận vợ chồng với chị thì chị đồng ý vì hiện nay chị và anh T không còn yêu thương nhau nên không thể hàn gắn cuộc sống chung.
Về con chung: có một con chung là Đoàn Văn H, sinh ngày 20/6/1996 đã trưởng thành, chị không yêu cầu tòa giải quyết.
Về tài sản chung: chị và anh T tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị và anh T không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Anh Đoàn Văn T và chị Lê Thị Đ tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Xét thấy anh T và chị Đ có đủ điều kiện kết hôn nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Tại Tòa anh Đoàn Văn T và chị Lê Thị Đ đều xác định sau khi cưới anh, chị có thời gian dài sống hạnh phúc nhưng đến những năm gần đây thì giữa anh, chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Cũng từ những lý do này nên hai bên không thể hàn gắn lại cuộc sống chung. Tại Tòa anh T yêu cầu Tòa không công nhận anh và chị Đ là vợ chồng. Chị Đ cũng đồng ý chấm dứt mối quan hệ vợ chồng với anh T. Do đó, anh T yêu cầu không công nhận anh T và chị Đ là vợ chồng là có căn cứ và phù hợp với Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: có một con chung tên Đoàn Văn H, sinh ngày 20/6/1996, đã trưởng thành, anh T và chị Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: anh T và chị Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: anh T và chị Đ đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[ 6] Anh Đặng Văn T phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[ 7] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 9, 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1.Về hôn nhân: không công nhận anh Đoàn Văn T và Lê Thị Đ là vợ chồng.
2.Về con chung: có một con chung là Đoàn Văn H, sinh ngày 20/6/1996 đã trưởng thành, anh T và chị Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3.Về tài sản chung: anh T và chị Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4.Về nợ chung: anh T và chị Đ đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5.Về án phí hôn nhân và gia đình: anh Đoàn Văn T phải nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số: 0010649 ngày 23 tháng 6 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên Tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND H. Thạnh Phú; - Chi cục THADS H. Thạnh Phú; - UBND xã N, Huyện P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Đào Hồng Vân |