- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 410/2026/DS-ST Ngày: 26-3-2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Tốt.
2. Bà Nguyễn Thị Mây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1409/2025/TLST–DS ngày 09 tháng 12 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2026/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 157/2026/QĐST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V;
Địa chỉ trụ sở chính: H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị Ái H, ông Hoàng Từ Trung Đ, bà Tô Thị Thu T, bà Võ Thị T1, bà Lê Thị Thu T2, bà Phan Thị Mỹ D, ông Ngô Tâm H1; là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số: 2307/2025/UQ-VPB ngày 18/11/2025 của Ngân hàng Thương mại cổ phần V);
Địa chỉ liên lạc: I C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt)
Bị đơn: Ông Trần Mạnh H2, sinh năm 1974;
Địa chỉ: 331/70/86 P, Khu phố C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản khai, biên bản thì với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Ngô Tâm H1 trình bày:
Từ tháng 7/2022 đến tháng 8/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần V (viết tắt là Ngân hàng) và ông Trần Mạnh H2 đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, dịch vụ ngân hàng Đ1 (ba) Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản đảm bảo, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử (viết tắt là Giấy đề nghị), cụ thể:
- Theo Giấy đề nghị ngày 06/7/2022 của ông H2, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông H2 với hạn mức 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng, mục đích sử dụng: phục vụ nhu cầu đời sống. Sau khi được cấp thẻ, ông H2 thực hiện giao dịch và thanh toán cho Ngân hàng 4.249.420 (bốn triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi) đồng. Sau ngày 30/12/2022 ông H2 không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo Thông báo giao dịch hàng tháng, nên Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 26/3/2026 ông H2 còn nợ Ngân hàng số tiền là 200.272.737 (hai trăm triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn bảy trăm ba mươi bảy) đồng. Trong đó: nợ gốc 55.743.960 đồng, nợ lãi: 144.528.777 đồng.
- Theo Giấy đề nghị số DSA/VN0010325/202207/3907 ngày 07/7/2022 của ông H2, Ngân hàng đã cho ông H2 vay số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng: vay tiêu dùng. Sau khi vay, ông H2 không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo Thông báo giao dịch hàng tháng, nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 26/3/2026 ông H2 còn nợ Ngân hàng số tiền là 406.757.054 (bốn trăm linh sáu triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn không trăm năm mươi bốn) đồng. Trong đó: nợ gốc 146.682.823 đồng, nợ lãi: 260.074.231 đồng.
- Theo Giấy đề nghị số DSA/VN0010325/202207/3911 ngày 11/7/2022 của ông H2, Ngân hàng đã cho ông H2 vay số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng: vay tiêu dùng. Sau khi vay, ông H2 không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo Thông báo giao dịch hàng tháng, nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 26/3/2026 ông H2 còn nợ Ngân hàng số tiền là 270.538.105 (hai trăm bảy mươi triệu năm trăm ba mươi tám nghìn một trăm linh năm) đồng. Trong đó: nợ gốc 97.730.414 đồng, nợ lãi: 172.807.691 đồng.
- Theo Giấy đề nghị số DSA/VN0010325/202208/3901 ngày 02/8/2022 của ông H2, Ngân hàng đã cho ông H2 vay số tiền 56.600.000 (năm mươi sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng, thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng: vay tiêu dùng. Sau khi vay, ông H2 không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo Thông báo giao dịch hàng tháng, nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 26/3/2026 ông H2 còn nợ Ngân hàng số tiền là 155.243.301 (một trăm năm mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn ba trăm linh một) đồng. Trong đó: nợ gốc 56.171.415 đồng, nợ lãi: 99.071.886 đồng.
Nay Ngân hàng khởi kiện ông H2. Tính đến ngày 26/3/2026 ông H2 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 1.032.811.197 (một tỷ không trăm ba mươi hai triệu tám trăm mười một nghìn một trăm chín mươi bảy) đồng. Trong đó: nợ gốc 356.328.612 đồng, nợ lãi 676.482.585 đồng. Ngoài ra, ông H2 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 27/3/2026 theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong các Giấy đề nghị cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên.
Ngoài ra, nguyên đơn không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 02/3/2026 bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa hôm nay:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt; giữ nguyên ý kiến, yêu cầu trình bày trong quá trình tố tụng.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc thanh toán số tiền vay do các bên đương sự xác lập, giữa một bên là tổ chức tín dụng với khách hàng. Đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo kết quả xác minh của Công an phường A, Thành phố Hồ Chí Minh:“Ông Trần Mạnh H2 có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại số C P, Khu phố C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh”. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Căn cứ vào Điều 26, 35, 36, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Ngân hàng có ký các hợp đồng tín dụng với ông Trần Mạnh H2 với nội dung như sau:
Vào ngày 06/7/2022 nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng và bị đơn đã nhận thẻ, với hạn mức 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng, mục đích phục vụ nhu cầu đời sống. Điều này chứng tỏ bị đơn có vay của nguyên đơn 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.
Vào ngày 07/7/2022, nguyên đơn đã cho bị đơn vay và bị đơn đã nhận số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng vay tiêu dùng theo Giấy đề nghị số DSA/VN0010325/202207/3907. Điều này chứng tỏ bị đơn có vay của nguyên đơn 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.
Vào ngày 11/7/2022, nguyên đơn đã cho bị đơn vay và bị đơn đã nhận số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng vay tiêu dùng theo Giấy đề nghị số DSA/VN0010325/202207/3911. Điều này chứng tỏ bị đơn có vay của nguyên đơn 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Và vào ngày 02/8/2022, nguyên đơn đã cho bị đơn vay và bị đơn đã nhận số tiền 56.600.000 (năm mươi sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng, thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng vay tiêu dùng theo Giấy đề nghị số DSA/VN0010325/202208/3901. Điều này chứng tỏ bị đơn có vay của nguyên đơn 56.600.000 (năm mươi sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Tuy nhiên bị đơn không trả nợ đầy đủ cho nguyên đơn. Tính đến ngày xét xử bị đơn còn nợ nguyên đơn 1.032.811.197 (một tỷ không trăm ba mươi hai triệu tám trăm mười một nghìn một trăm chín mươi bảy) đồng. Trong đó: nợ gốc 356.328.612 đồng, nợ lãi 676.482.585 đồng. Và tiền lãi phát sinh từ ngày 27/3/2026 theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận tại 04 (bốn) Giấy đề nghị trên cho đến khi trả xong số nợ trên. Bị đơn vắng mặt trong quá trình tố tụng, nên từ bỏ quyền tranh tụng.
Theo quy định của pháp luật:
Điều 91, 92, 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, ...”. Đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Mục đích vay tiền của bị đơn để tiêu dùng cá nhân, không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nên Tòa án xét thấy không cần thiết triệu tập thêm đương sự để tham gia tố tụng. Mặt khác, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả nợ. Xét, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở và căn cứ pháp lý nên chấp nhận.
Về án phí:
Theo Điều 47 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là 42.984.336 (bốn mươi hai triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn ba trăm ba mươi sáu) đồng nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí 18.977.252 (mười tám triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm năm mươi hai) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số: 0047225 ngày 08/12/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 36, 39, 91, 92, 93, 96, 147, 227, 228, 233, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1 Buộc ông Trần Mạnh H2 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền là 1.032.811.197 (một tỷ không trăm ba mươi hai triệu tám trăm mười một nghìn một trăm chín mươi bảy) đồng. Trong đó:
Nợ gốc 356.328.612 đồng.
Nợ lãi 676.482.585 đồng.
1.2 Kể từ ngày 27/3/2026 ông Trần Mạnh H2 còn phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi trả xong số nợ trên.
1.3 Việc thi hành án do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí:
2.1 Ông Trần Mạnh H2 phải chịu án phí sơ thẩm 42.984.336 (bốn mươi hai triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn ba trăm ba mươi sáu) đồng, nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
2.2 Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tiền tạm ứng án phí là 18.977.252 (mười tám triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm năm mươi hai) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số: 0047225 ngày 08/12/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự; thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND KV7 – TP.HCM; - Phòng THADS KV7 – TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Yến Ngọc |