vanban.org

Bản án 410/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG.

Buộc bà Lê Thị Hồng H phải trả cho Ngân hàng TMCP SG số tiền 45.239.165 đồng gồm: nợ gốc 19.635.161 đồng, tiền lãi tính đến ngày 30/6/2022 là 25.604.004 đồng. Ngoài ra, bà H còn phải trả cho Ngân hàng TMCP SG tiền lãi phát sinh từ ngày 30/6/2022 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Giấy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 410/2022/DS-ST
Ngày: 30-6-2022
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Quỳnh Mai Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Nguyễn Trần Hữu Tuấn

2/ Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

-

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền– Kiểm sát viên.

Ngày 30/6/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 351/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2020 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2022/QĐXXST-DS ngày 16/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2022/QĐST-DS ngày 06/6/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SG

Trụ sở: 266-268 ABCD, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Thụy Q (có đơn xin vắng mặt)

(Theo giấy ủy quyền số 114/2020/UQ-CNTĐ ngày 16/6/2020)

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: 94/3, ấp T 3, xã TH, huyện H, Tp.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn trình bày:

Ngày 21/3/2018, bà Lê Thị Hồng H có ký với Ngân hàng TMCP SG (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Lê Thị Hồng H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng quốc tế Ladies First với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, lãi suất 2,15%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 38.000.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến ngày bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 24.204.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), vì vậy ngày 05/4/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiệnn phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà Lê Thị Hồng H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày ngày 30/6/2022 là: 45.239.165 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi lăm triệu hai trăm ba mươi chín ngàn một trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó:

● Nợ gốc: 19.635.161 đồng

● Lãi quá hạn: 25.604.004 đồng

Và bà Lê Thị Hồng H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 30/6/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi xuất quy định tại Hợp đồng..

Bị đơn bà Lê Thị Hồng H vắng mặt, không giao nộp tài liệu, chứng cứ, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:

-

Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải, gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, Tòa án có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, cần rút kinh nghiệm.

-

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng và bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Toà án đã triệu tập nhiều lần, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn bà H đều vắng mặt không lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong quá trình tố tụng, do bị đơn không đến Tòa án để cung cấp lời khai, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 21/3/2018 (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng), Bảng Tóm tắt sao kê và các tài liệu khác do Ngân hàng cung cấp thì có cơ sở xác định: Vào ngày 21/3/2018, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng quốc tế Ladies First cho bà Lê Thị Hồng H với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, lãi suất 2,15%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Các bên có thỏa thuận: khi bà H vi phạm việc thanh toán tiền thì Ngân hàng được chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ; áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Ngân hàng; tiến hành áp dụng một hoặc nhiều biện pháp để thu hồi nợ kể cả việc khởi kiện (Điều 23). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 38.000.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 24.204.000 đồng. Sau đó, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng được quyền thu hồi nợ. Từ đó, căn cứ quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử nhận định có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và buộc bà H trả cho Ngân hàng số tiền 45.239.165 đồng gồm: nợ gốc 19.635.161 đồng, tiền lãi tính đến ngày 30/6/2022 là 25.604.004 đồng. Ngoài ra, bà H phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 30/6/2022 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng ngày 21/3/2018 giữa Ngân hàng và bà H.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 2.261.958 đồng, bà H phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG.

Buộc bà Lê Thị Hồng H phải trả cho Ngân hàng TMCP SG số tiền 45.239.165 đồng gồm: nợ gốc 19.635.161 đồng, tiền lãi tính đến ngày 30/6/2022 là 25.604.004 đồng.

Ngoài ra, bà H còn phải trả cho Ngân hàng TMCP SG tiền lãi phát sinh từ ngày 30/6/2022 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 21/3/2018 ký giữa bà H và Ngân hàng TMCP SG.

Việc trả tiền thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2/Án phí:

Bà Lê Thị Hồng H phải chịu án phí sơ thẩm là 2.261.958 đồng (hai triệu hai trăm sáu mươi mốt ngàn chín trăm năm mươi tám đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP SG số tiền tạm ứng án phí là 734.676 (bảy trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm bảy mươi sáu) đồng, theo biên lai thu số AA/2019/0076053 ngày 08 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

3/ Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ