vanban.org

Bản án 41/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm các tội “Tàng trữ hàng cấm”; “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2025. [3] Xử lý vật ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm các tội “Tàng trữ hàng cấm”; “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2026/HS-ST.
Ngày 09 - 02 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Lê Thị Tuyết Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2026/TLST-HS ngày 23/01/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2026/QĐXXST-HS ngày 28/01/2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P, sinh ngày 23/5/1998; tại Lạng Sơn; số CCCD: 020098001817; nơi cư trú: Thôn TS, xã VL, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Dương Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 27/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc", thời hạn 20 tháng; nhân thân: Ngày 12/7/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 14 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2025 đến nay; có mặt.

* Người chứng kiến: Ông Trương Công H, sinh năm 1973; vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1988; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 00 ngày 08/12/2025, Nguyễn Văn P đang ngồi uống nước tại quán trà đá ven đường gần khu Công nghiệp Bình Lục thì gặp và nói chuyện với một người đàn ông không quen biết ngồi uống nước cùng trong quán. Trong quá trình nói chuyện, P nhờ người đàn ông mua hộ 300.000 đồng ma tuý để sử dụng, người đàn ông đồng ý. P đưa 300.000 đồng cho người đàn ông và được người này đưa lại cho 01 gói giấy bạc, P mở gói giấy ra thấy bên trong có chất bột màu trắng, dạng cục, biết là ma tuý nên P cầm gói giấy đi ra khu vực cánh đồng gần quán nước và sử dụng một mình hết khoảng 1/2 số ma tuý. Sau đó P cất số ma túy còn lại trong túi quần và đi về phòng trọ. Trong thời gian làm việc tại khu công nghiệp Bình Lục, P quen một người đàn ông tên Hải tại quán nước vỉa hè. Hải nói với P có pháo hoa, pháo nổ của nước ngoài muốn bán. Do có nhu cầu mua pháo về để sử dụng vào dịp Tết Nguyên đán nên P hỏi mua của Hải 04 bệ pháo hoa và 01 cuộn pháo nổ. Hải đồng ý bán, báo giá số pháo trên là 5.000.000 đồng và hẹn đến tối ngày 11/12/2025 ra khu vực cầu Liêm Tuyền lấy pháo. Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 12/12/2025, P lấy nốt số ma tuý mua ngày 08/12/2025 ra sử dụng hết. Khoảng 00h 10 phút ngày 12/12/2025, P đi đến khu vực cầu Liêm Tuyền gặp Hải. Hải đưa cho P 01 chiếc balo bằng vải, màu đen-ghi. P mở chiếc balo ra thì thấy bên trong có 04 hộp hình chữ nhật, đều có dán giấy in chữ nước ngoài cùng 01 cuộn dây có các quả màu đỏ, hình trụ. P biết là pháo hoa và pháo nổ nên cầm balo rồi đeo sau lưng và đưa cho Hải số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, P đi bộ tìm xe ôm để đi về phòng trọ, còn Hải điều khiển xe đi đâu không rõ. Ngay lúc này, P bị lực lượng Công an phường Liêm Tuyền, tỉnh Ninh Bình kiểm tra phát hiện bắt quả tang. * Vật chứng, tài sản thu giữ của Nguyễn Văn P gồm:

- 04 hộp bằng giấy hình chữ nhật đều có dán giấy in chữ nước ngoài cùng 01 cuộn gồm 68 quả hình trụ tròn, màu đỏ, tất cả được niêm phong trong hộp catton dán kín, ký hiệu PN01.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 PRO màu vàng, số IMEI1: 358131095121803, số IMEI2: 3358132095121801, bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel, được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu DT02.

- 01 balo màu đen-ghi.

- Thu mẫu nước tiểu của P để phục vụ giám định về ma tuý, ký hiệu NT01. Kiểm tra chất ma túy trong cơ thể P, kết quả: Phát hiện chất ma túy trong cơ thể P. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn P tại thôn Cửa Câu Trại, xã Bình An, tỉnh Ninh Bình, lực lượng Công an không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án. Tại bản kết luận giám định số 2270/KL-KTHS ngày 18/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3 là pháo nổ, tổng khối lượng là 8,805 kg. Tại bản kết luận giám định số 2283/KL-KTHS ngày 18/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Tìm thấy chất Morphine, O-6-Monoacetylmorphine, Acetylcodeine Codeine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma tuý Heroine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01. Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn P là đối tượng đang trong diện quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo Quyết định số 05a/QĐ-UBND ngày 10/01/2024 của Chủ tịch UBND xã Vũ Lăng, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Vũ Lăng, tỉnh Lạng Sơn). Thời hạn quản lý: từ ngày 09/01/2024 đến ngày 09/01/2026. Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 120/CT-VKS-KV5 ngày 20/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Nguyễn Văn P về các tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn P từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”; từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 45 tháng đến 54 tháng tù.

- Phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu đen - ghi và toàn bộ số pháo đã thu giữ được hoàn trả sau giám định; trả lại bị cáo Nguyễn Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 PRO màu vàng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án. Bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Văn P là người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 05a/QĐ-UBND ngày 10/01/2024 của Chủ tịch UBND xã Vũ Lăng, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 09/01/2024 đến ngày 09/01/2026. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 12/12/2025, tại tổ dân phố Triệu Xá, phường Liêm Tuyền, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn P đã sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Heroine, bằng hình thức chích vào mạch máu cơ thể.

Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 12/12/2025, tại tổ dân phố Triệu Xá, phường Liêm Tuyền, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn P có hành vi cất giấu trái phép 8,805 kg pháo nổ trong balô bằng vải màu đen - ghi đeo sau lưng mục đích để sử dụng thì bị Công an phường Liêm Tuyền phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” chưa được xóa và đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đến nay đã được xóa án tích. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong khi lượng hình.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với các loại hàng hoá đặc biệt nhất là trong bối cảnh Nhà nước đang siết chặt quản lý các mặt hàng gây hại (như pháo nổ …) hành vi tàng trữ của bị cáo đã tiếp tay cho các hoạt động phi P, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ hoặc ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự an toàn trong xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm và hành vi vi phạm P luật khác, gây bất bình sâu sắc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo Nguyễn Văn P phạm nhiều tội, nên cần tổng hợp hình phạt của cả hai tội thành hình phạt chung mà bị cáo phải chấp hành theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn P không có công việc làm, không có nguồn thu nhập, mục đích cất giấu pháo để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng đã thu giữ:

Đối với 01 (một) chiếc ba lô bằng vải màu đen - ghi bên ngoài có in chữ Wenhao 60L, có hai quai đeo phía sau, ba lô được khóa bằng khóa kéo (đã qua sử dụng) đến nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4pro màu vàng, là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn P, P không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo P, song giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Đối với toàn bộ số pháo thu giữ của bị cáo P được hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Về tình tiết khác của vụ án:

Về nguồn gốc 8,808kg pháo nổ và pháo hoa nổ thu giữ trong vụ án: P khai mua của một người đàn ông tên Hải, P không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể của Hải ở đâu và không nhớ rõ đặc điểm nhận dạng của Hải. Ngoài lời khai của P, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác để xác định được người bán pháo cho P nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về nguồn gốc số Heroin P đã sử dụng: P khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết, P không nhớ được đặc điểm nhận dạng, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu và không xác định được địa điểm mua ma túy thuộc xã, phường nào của tỉnh Ninh Bình. Ngoài lời khai của P, cơ quan Cảnh sát điều tra không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác để xác định được người bán ma túy cho P nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của P luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của P luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Điều 21; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm các tội “Tàng trữ hàng cấm”; “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2025.

[3] Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc ba lô bằng vải màu đen và màu ghi bên ngoài có in chữ Wenhao 60L, có hai quai đeo phía sau, ba lô được khóa bằng khóa kéo.

- Trả lại cho Nguyễn Văn P 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4pro màu vàng, có số Imei (khe 1) 358131095121803; có số Imei (khe 2) 358132095121801, có seri: R58K727S1RM; trong điện thoại có gắn một thẻ sim nhà mạng Vietel trên sim có dãy số 8984048000946501894 được niêm phong trong phong bì có ký hiệu "ĐTKĐTO1”, song giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng carton được niêm phong dán kín có chữ ký của các bên liên quan và có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh bình.

Tình trạng vật chứng như trong các biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đều lập ngày 22/01/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình với Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Ninh Bình.

[4] Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ