- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thế D - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2026/HS-ST Ngày: 17 - 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Đạo;
2. Bà Bồ Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2026/TLST - HS ngày 29 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2026/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Phạm Thế D, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2000, tại xã X, tỉnh Lào Cai.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã X, tỉnh Lào Cai.
CCCD: 015200005749, ngày cấp 09/8/2021; nơi cấp Cục cảnh sát QLHC và TTXH. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Ngọc L, sinh năm 1969; Con bà Đỗ Thị N, sinh năm 1979; Vợ Giàng Thị H, sinh năm 2001 (đã ly hôn; Con có 01 con, sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 25-8-2020 bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 442/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26-9-2025, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an tỉnh L (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Đỗ Thu H1, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn Q, xã M, tỉnh Lào Cai (vắng măt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26-9-2025, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phát hiện Phạm Thế D điều khiển xe mô tô 21B1-776.92 theo hướng từ thôn Làng Chạng, xã P, tỉnh Lào Cai đi về xã P, tỉnh Lào Cai có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra Duyệt tại khu vực thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai thì phát hiện thu giữ tại túi áo khoác bên trái Duyệt đang mặc 01 (một) gói nilon màu đỏ, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine); thu giữ tại túi quần trước bên phải 01 (một) gói nilon trong suốt, bên trong có gói giấy màu bạc, trong gói giấy bạc có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine). Phạm Thế D khai nhận chất bột nén trong 02 (hai) gói nilon đều là ma túy loại Heroine Duyệt cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ số vật chứng như đã nêu ở trên.
Ngày 27-9-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Phạm Thế D tại thôn Y, xã X, tỉnh Lào Cai nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Phạm Thế D bằng hình thức test nhanh nước tiểu, cho kết quả dương tính với chất ma túy Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thế D khai nhận: Do nghiện chất ma túy và biết khu vực xã T có ma túy bán, ngày 22-9-2025 Duyệt một mình đi vào xã T và tìm gặp được Mùa A T, sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã N, tỉnh Lào Cai, qua trao đổi D mua được 01 (một) gói ma túy loại Heroine với giá 200.000đ sau đó sử dụng hết cho bản thân. Đến ngày 25-9-2025, do muốn có ma túy để sử dụng D tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, biển số 21B1-776.92 từ nhà tại thôn Y, xã X, tỉnh Lào Cai đến xã T, tỉnh Lào Cai rồi ngủ lại đây. Đến khoảng 10 giờ ngày 26-9-2025, D đi lên bản Mông không rõ địa danh nào và gặp lại T đang đứng ở ven đường, D đưa cho T 700.000đ trong đó tiền mua ma túy là 500.000đ, trả công cho Tủa 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, D tự chia thành 02 gói và cất giấu trên người. Quá trình đi từ xã T về nhà, khi đi qua thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác của Công an tỉnh L phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng nêu ở trên.
Tại bản Kết luận giám định số 618/KL-KTHS ngày 30/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
1. Chất bột nén màu trắng trong gói nilon màu đỏ trong phong bì niêm phong, ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,55 gam.
2. Chất bột nén màu trắng trong gói nilon trong suốt trong phong bì niêm phong, ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,08 gam. (bút lục 26)
Cáo trạng số: 65/CT-VKS-KV3 ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai truy tố Phạm Thế D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai giữ nguyên toàn bộ nội dụng bản cáo trạng. Đồng thời đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Xử phạt bị cáo Phạm Thế D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng và tài sản tạm giữ trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,45 gam ma túy loại Heroine được niêm phong vào 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh L phát hành. Mặt trước phong bì ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phạm Thế D tại thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai ngày 26/9/2025 (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên của Nguyễn Anh T1, Đoàn Thị Bích N1, Trần Thuận N2, Phạm Thế D và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L; 01 bơm kim tiêm xi lanh loại 3ml/cc; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, toàn bộ các mảnh nilon gói, giấy bạc.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Thế D 01 điện thoại di động IPHONE màu hồng, đã qua sử dụng, nứt vỡ nhiều chỗ.
- Trả lại cho Đỗ Thu H1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave màu đen bạc, biển số 21B1-776.92, xe đã cũ, đã qua sử dụng và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 082638, mang tên Trần Văn T2 biển số 21B1-776.92.
Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Phạm Thế D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đúng như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử;
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Phạm Thế D tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26-9-2025, tại thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai, Phạm Thế D đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,63 gam (Không phẩy sáu mươi ba gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy Phạm Thế D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, biết rõ việc Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của Phạm Thế D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy:
Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác, cần phải được xử lý nghiêm minh và có hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25-8-2020 bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 442/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo được quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, bị cáo còn có thể bị xử phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên không có khả năng thi hành án. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh L đã trích 0,1 gam ma túy từ 0,55 gam ma túy làm mẫu giám định; lấy hết 0,08 gam ma túy làm mẫu giám định. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến số ma túy ( 0,1 gam ma túy và 0,08 gam ma túy) mà Cơ quan điều tra đã lấy mẫu giám định.
- Tịch thu tiêu hủy 0,45 gam ma túy loại Heroine được niêm phong vào 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh L phát hành. Mặt trước phong bì ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phạm Thế D tại thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai ngày 26/9/2025 (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên của Nguyễn Anh T1, Đoàn Thị Bích N1, Trần Thuận N2, Phạm Thế D và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L; 01 bơm kim tiêm xi lanh loại 3ml/cc; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, toàn bộ các mảnh nilon gói, giấy bạc.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Thế D 01 điện thoại di động IPHONE màu hồng, đã qua sử dụng, nứt vỡ nhiều chỗ (không liên quan đến việc phạm tội).
- Trả lại cho Đỗ Thu H1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave màu đen bạc, biển số 21B1-776.92, xe đã cũ, đã qua sử dụng; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 082638, mang tên Trần Văn T2 biển số 21B1-776.92.
Những người tham gia tố tụng khác: Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thế D còn khai nhận vào ngày 22-9-2025, D đã mua 01 (một) gói ma tuý loại Heroine của Mùa A T, sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã N, tỉnh Lào Cai và sử dụng hết bằng hình thức chích vào cơ thể ở khu vực đường đi vào xã T, tỉnh Lào Cai. Căn cứ lời khai của D và kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 26-9-2025 (dương tính ma túy), xét thấy Phạm Thế D không thuộc các trường hợp được quy định là chủ thể của tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” nên Công an tỉnh L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Thế D về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Mua A T, sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã N, tỉnh Lào Cai là người bán ma túy cho Phạm Thế D hai lần vào ngày 22-9-2025 và ngày 26-9-2025. Ngày 17-12-2025 T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy xảy ra tại thôn N, xã N, tỉnh Lào Cai nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Tủa trong vụ án này là phù hợp phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với chị Đỗ Thu H1 là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, biển số 21B1-776.92. Phạm Thế D hỏi mượn xe anh Đoàn Quang H2 là con trai của chị H1 sau đó D sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện để đi mua ma túy, chị H1 không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị H1 là phù hơp với quy định của pháp luật.
Đối với Đoàn Quang H2 là con trai của chị Đỗ Thu H1, H2 đã lấy xe đi chơi và cho Phạm Thế D mượn, quá trình điều tra xác đinh H2 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hơp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Phạm Thế D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tuyên bố bị cáo Phạm Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thế D 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26-9-2025.
2. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,45 gam ma túy loại Heroine được niêm phong vào 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh L phát hành. Mặt trước phong bì ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phạm Thế D tại thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai ngày 26/9/2025 (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên của Nguyễn Anh T1, Đoàn Thị Bích N1, Trần Thuận N2, Phạm Thế D và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L; 01 bơm kim tiêm xi lanh loại 3ml/cc; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, toàn bộ các mảnh nilon gói, giấy bạc.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Thế D 01 điện thoại di động IPHONE màu hồng, đã qua sử dụng, nứt vỡ nhiều chỗ.
- Trả lại cho Đỗ Thu H1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave màu đen bạc, biển số 21B1-776.92, xe đã cũ, đã qua sử dụng; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 082638, mang tên Trần Văn T2 biển số 21B1-776.92.
(Theo Biên bán giao, nhận vật chứng ngày 06-02-2026).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Thế D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đỗ Thu H1 có quyền kháng cáo bản án phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. N¬i nhËn:
| - TAND tØnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 3 - Lào Cai; - THA phạt tù; - Phòng THADS khu vực 3 -Lào Cai; - Bị cáo; - Công an tỉnh Lào Cai; - Người có QLNVLQ; - L u HS. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |