vanban.org

Bản án 41/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Kim L được ly hôn ông Nguyễn Thành Q.

Về con chung: Bà Đoàn Thị Kim L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Phúc H, sinh ngày 31/8/2021, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Nguyễn Thành Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trườ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Kim L - Nguyễn Thành Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Kim L được ly hôn ông Nguyễn Thành Q.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2026/HNGĐ-ST
Ngày 22-5-2026
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Phương

Bà Phan Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án.

Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Đoàn Thị Kim L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Bị đơn: Nguyễn Thành Q, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim L trình bày:

Bà Đoàn Thị Kim L và ông Nguyễn Thành Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 10/8/2021 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Đắk Lắk). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến khoảng đầu năm 2024, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân là bất đồng quan điểm. Ông Nguyễn Thành Q có thú vui chơi chim chào mào, nên suốt ngày đi bên ngoài với bạn bè, không quan tâm đến gia đình. Ông Q không có nghề nghiệp ổn định, cũng không lo làm ăn nên kinh tế trong gia đình chủ yếu là là L tự làm và lo cho con. Mặc dù vợ chồng đã cùng nhau nói chuyện để hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn được. Khoảng đầu tháng 12/2025, ông Q có nộp đơn ly hôn đến Tòa án để yêu cầu giải quyết ly hôn, nhưng vì vợ chồng không thống nhất được phần tài sản chung nên ông Q đã rút đơn khởi kiện. Kể từ đó, ông Q mỗi lần ăn nhậu say xỉn thì về nhà kiếm chuyện với bà L, đe dọa, bạo lực về tinh thần, khiến cho cuộc sống của bà L rất căng thẳng, ngột ngạt. Bà L và ông Q đã sống ly thân khoảng 01 năm nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà Đoàn Thị Kim L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thành Q.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phúc H, sinh ngày 31/8/2021, hiện tại con đang sống cùng bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thành Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên hòa giải ngày 13/4/2026, ông Q có mặt và trình bày ý kiến nhưng không ký vào biên bản hòa giải, nội dung được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Thành Q thống nhất điều kiện và thời gian kết hôn như bà L trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đôi khi vợ chồng cũng xảy ra một số mâu thuẫn nhỏ nhưng không đáng kể. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 năm, ông Q đi làm xa nhà nhưng thường xuyên gọi điện về nói chuyện với con, muốn hàn gắn với vợ nhưng đến nay vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Nay bà Đoàn Thị Kim L đề nghị ly hôn thì ông Q đồng ý. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phúc H, sinh ngày 31/8/2021, hiện tại con đang ở với bà L. Ông Q chỉ có 01 đứa con nên ông Q muốn con ở với mẹ cho đến khi con 07 tuổi thì bà L phải cam kết giao lại con chung cho ông trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Đoàn Thị Kim L nộp đơn khởi kiện đề ngày 22/12/2025, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Thành Q có nơi cư trú tại thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (Sửa đổi bổ sung), Tòa án nhân dân khu vực 13

- Đắk Lắk có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án. Bị đơn ông Nguyễn Thành Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân: Tại thời điểm đăng ký kết hôn năm 2021, bà Đoàn Thị Kim L và ông Nguyễn Thành Q có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Đoàn Thị Kim L trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm dẫn đến hay cãi vã, ông Q đã từng nộp đơn lên Tòa án để yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng vì hai bên chưa thỏa thuận được phần tài sản chung nên ông Q đã rút đơn khởi kiện. Từ đó, ông Q mỗi lần ăn nhậu say xỉn thì về nhà kiếm chuyện, đe dọa, bạo lực về tinh thần, khiến cho cuộc sống của bà L rất căng thẳng, ngột ngạt. Hai bên đã sống ly thân được 01 năm, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thành Q trình bày vợ chồng có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, bà Đoàn Thị Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Thành Q.

Về con chung: Bà L và ông Q thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Phúc H, sinh ngày 31/8/2021. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng. Xét thấy, cháu H hiện do bà L trực tiếp nuôi dưỡng, do đó để đảm bảo cho cháu H phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, Tòa án giao cho bà L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung); các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Kim L được ly hôn ông Nguyễn Thành Q.

2. Về con chung: Bà Đoàn Thị Kim L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Phúc H, sinh ngày 31/8/2021, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Thành Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xét.

4. Về án phí: Bà Đoàn Thị Kim L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006493 ngày 31/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk nên đã nộp đủ.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ