- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị Lò Thị X và anh Lò Văn B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị X được ly hôn với anh Lò Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2026/HNGĐ–ST Ngày: 28–01–2026 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Vinh, ông Nguyễn Quang Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2
- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 117/2025/TLST - HNGĐ ngày 04-12-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2026/QĐST-HNGĐ ngày 09-01-2026; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị X, sinh ngày 01/01/1988. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Bản LK, xã BT, tỉnh Sơn La.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn B, sinh ngày 05/10/1987. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Bản LK, xã BT, tỉnh Sơn La. (Anh Lò Văn B hiện đang chấp hành án tại Đội 38, phân trại số 1 - Trại giam Thanh Cẩm, Cục C10, Bộ Công an; địa chỉ: Thôn Ngọc Khạt, xã Cẩm Thạch, tỉnh Thanh Hóa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lò Thị X trình bày:
Chị Lò Thị X và anh Lò Văn B kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 02/10/2011 tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã BT, tỉnh Sơn La), kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, ngoài ra anh Lò Văn B là người nghiện ma túy, chị X đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh B vẫn không từ bỏ được ma túy dẫn đến hôn nhân gia đình bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Lò Văn B hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Cẩm, Cục C10, Bộ Công an từ năm 2022 cho đến nay. Chị Lò Thị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lò Văn B.
Về con chung: Chị Lò Thị X và anh Lò Văn B có 03 con chung: Cháu Lò Văn N, sinh ngày 10/5/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động); cháu Lò Văn N, sinh ngày 27/3/2010 và cháu Lò Văn T, sinh ngày 07/02/2013.
Chị Lò Thị X đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Văn N và cháu Lò Văn T. Cháu Lò Văn N đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị X không yêu cầu anh Lò Văn B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong bản tự khai bị đơn anh Lò Văn B trình bày (Có xác nhận của Trại giam Thanh Cẩm):
Anh Lò Văn B và chị Lò Thị X kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 02/10/2011 tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã BT, tỉnh Sơn La), kết hôn tự nguyện không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh B nghiện ma túy, dù được chị X nhiều lần khuyên bảo nhưng anh B vẫn không từ bỏ được dẫn đến vi phạm pháp luật. Hiện tại anh đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Cẩm, Cục C10, Bộ Công an. Nay chị Lò Thị X yêu cầu ly hôn, anh Lò Văn B xác định tình cảm không còn, anh B nhất trí ly hôn với chị Lò Thị X.
Về con chung: Anh Lò Văn B và chị Lò Thị X có 03 con chung: Cháu Lò Văn N, sinh ngày 10/5/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động); cháu Lò Văn N, sinh ngày 27/3/2010 và cháu Lò Văn T, sinh ngày 07/02/2013. Anh B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, điều kiện nuôi con và ý kiến của con chung tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 16/12/2025 xác định: Chị Lò Thị X và anh Lò Văn B kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 02/10/2011 tại Ủy ban nhân dân xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã BT, tỉnh Sơn La). Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không bên nào ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được. Hiện tại chị X và anh B đã sống ly thân. Anh B hiện đang đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam Thanh Cẩm. Về con chung: chị Lò Thị X và anh Lò Văn B có 03 con chung là cháu Lò Văn N, sinh ngày 10/5/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động); cháu Lò Văn N, sinh ngày 27/3/2010 và cháu Lò Văn T, sinh ngày 07/02/2013. Hiện tại các cháu đang ở với chị X. Chị Lò Thị X có khả năng và điều kiện nuôi con.
Ý kiến của cháu Lò Văn N, Lò Văn T (Tại biên bản ghi ý kiến ngày 04/12/2025): Cháu N, cháu T đều có nguyện vọng muốn ở với chị Lò Thị X.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Lò Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị X giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai.
Anh Lò Văn B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Anh B giữ nguyên ý kiến như trình bày trong bản tự khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Cẩm, Cục C10, Bộ Công an đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về tình cảm: Xử cho chị Lò Thị X được ly hôn với anh Lò Văn B.
Về con chung: Giao cháu Lò Văn N, sinh ngày 27/3/2010 và cháu Lò Văn T, sinh ngày 07/02/2013 cho chị Lò Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Cháu Lò Văn N, sinh ngày 10/5/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Lò Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị X yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn B có nơi trú tại bản LK, xã BT, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2
- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lò Thị X, bị đơn anh Lò Văn B vắng mặt tại phiên tòa đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị X và anh Lò Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (Nay là xã BT, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, chị X và anh B là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, anh Lò Văn B nghiện ma túy, đã được chị X và gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng anh B vẫn không từ bỏ được ma túy dẫn đến hôn nhân gia đình bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Lò Văn B hiện đang chấp hành án về tội phạm liên quan ma túy tại Trại giam Thanh Cẩm, Cục C10, Bộ Công an. Chị Lò Thị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lò Văn B. Anh Lò Văn B nhất trí ly hôn với chị Lò Thị X.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, biên bản xác minh, bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị X và anh B không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Lò Văn B là người nghiện ma túy, đã được chị X nhiều lần khuyên bảo nhưng anh B vẫn không từ bỏ được ma túy, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa chị Lò Thị X và anh Lò Văn B đã sống ly thân nhau.
Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị X và anh B đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lò Thị X ly hôn với anh Lò Văn B.
Về con chung: Chị Lò Thị X và anh Lò Văn B có 03 con chung là Lò Văn N, sinh ngày 10/5/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động); cháu Lò Văn N, sinh ngày 27/3/2010 và cháu Lò Văn T, sinh ngày 07/02/2013. Hiện tại các cháu đang sống cùng chị Lò Thị X.
Chị Lò Thị X đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Văn N và cháu Lò Văn T. Cháu Lò Văn N đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh B có ý kiến là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của cháu Lò Văn N, Lò Văn T đều có nguyện vọng muốn ở với chị Lò Thị X.
Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Lò Văn B là đối tượng nghiện ma túy, hiện đang chấp hành án về tội phạm liên quan đến ma túy tại Trại giam Thanh Cẩm, Cục C10, Bộ Công an, nên anh B không thể trực tiếp nuôi dưỡng con và không có điều kiện nuôi con. Ý kiến của cháu N, cháu T có nguyện vọng muốn ở với chị Lò Thị X. Chị Lò Thị X có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Trong thời gian hai vợ chồng sống ly thân, anh B phải đi chấp hành án thì chị X là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con, chị X đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con về mọi mặt. Do đó cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, giao cháu Lò Văn N, Lò Văn T cho chị Lò Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cháu Lò Văn N đã trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, thu nhập để tự nuôi mình, nên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thị X và anh Lò Văn B xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị X được ly hôn với anh Lò Văn B.
2. Về con chung: Giao cháu Lò Văn N, sinh ngày 27/3/2010 và cháu Lò Văn T, sinh ngày 07/02/2013 cho chị Lò Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.
Cháu Lò Văn N, sinh ngày 10/5/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thị X và anh Lò Văn B xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án.
4. Về án phí: Chị Lò Thị X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La, theo biên lai thu số 0000834, ngày 04/12/2025.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị X, anh Lò Văn B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2 – Sơn La (02 bản); - Phòng THADS khu vực 2 – Sơn La; - UBND xã BT, tỉnh Sơn La; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tiến Dũng |