vanban.org

Bản án 41/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thế D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thế D 9 (chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 6/9/2025 đến ngày 14/9/2025. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thế D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thế D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HSST
Ngày: 28/11/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thư.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hồng Vinh và bà Nguyễn Thị Thiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 17/11/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thế D sinh năm 2004; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Bố đẻ là: Trần Thế Nh, sinh năm 1983, mẹ đẻ là: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là: Trương Thị H, sinh năm 2005; Con: Có 01, con sinh năm 2025.

- Tiền án: Không;

- Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 211/QĐ-XPHC ngày 29/4/2025 của UBND xã Đ, huyện Y (cũ) nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh xử phạt D về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng. Ngày 03/6/2025, D chấp hành xong việc nộp phạt.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/9/2025 đến ngày 14/9/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại ở địa phương, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997; HKTT: Thôn Ng, xã Y, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Quang V, sinh năm 1997;

HKTT: Thôn B, xã V, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/9/2025, Trần Thế D sinh năm 2004 trú tại thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng, biển kiểm soát (BKS) 15B1-204.49 của chị Trương Thị H sinh năm 2005 (là vợ của D) đến chơi nhà người thân ở thôn Ngô Nội, xã Y. Khi đến đoạn đường gần nhà anh Nghiêm Quang H sinh năm 1998 trú tại thôn Ng, xã Y thì xe bị hết xăng. Do D và anh H có mối quan hệ quen biết từ trước nên D bảo anh H cho D gửi xe ở nhà anh H. Anh H đồng ý. Sau đó, D đi bộ đến nhà người thân. Khi D đi qua nhà chị Nguyễn Thị Th sinh năm 1997 ở thôn Ngô Nội thì thấy cửa cổng nhà chị Th chỉ khép, không có khóa. Bên trong sân nhà chị Th dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ đen, BKS: 99D1-396.21 không khóa cổ, khóa càng, chìa khóa treo ở phía trước xe. Quan sát thấy không có ai trông coi nên D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe của chị Th để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, D mở cổng rồi đi vào trong sân. Đúng lúc này chị Th đi từ trong nhà ra nhìn thấy D và hỏi “có việc gì?”. Thấy vậy D nói dối là bố D mời bố chồng chị Th sang nhà D ăn cơm. Chị Th hỏi lại D: “tên là gì, con nhà ai?” nhưng D không trả lời mà nói với chị Th khi nào bố chồng chị Th về sẽ đến bảo lại rồi D bỏ đi. Sau đó, D đi bộ đến đoạn đường ngã ba đầu ngõ (cách nhà chị Th khoảng 50m) rồi quay lại nhà chị Th. D nhìn vào sân thì thấy chiếc xe của chị Th vẫn để ở vị trí cũ, chị Th đã vào trong nhà và ở sân không có ai trông coi. D đi vào trong sân và đến sát vị trí bên trái chiếc xe. D dùng tay trái cầm vào tay lái bên trái chiếc xe, tay phải cầm vào yên xe rồi dắt chiếc xe ra ngoài đường hướng đường giáp ranh giữa thôn Ngô Nội và thôn T, xã Y. D dắt xe được khoảng 100 mét thì dừng lại lấy chìa khóa xe mở khóa, đề nổ máy rồi điều khiển xe đi đến đoạn đường cạnh sân bóng đá thôn Ô Cách, xã Y. Tại đây, D mở cốp xe ra kiểm tra. Thấy không có tài sản gì, D lấy tô vít ở cốp xe ra tháo biển kiểm soát cho vào túi nilon rồi cất vào trong cốp xe, mục đích để trên đường đi không ai nhận ra chiếc xe trộm cắp. Sau đó, D đi đến cửa hàng mua bán xe máy “Đạt V” ở thôn B, xã V, tỉnh Bắc Ninh của anh Đỗ Quang V sinh năm 1997, trú tại thôn B, xã V. Khi gặp anh V, D hỏi “anh có mua xe cũ không?”, anh V trả lời: “có”. Thấy chiếc xe không đeo biển kiểm soát thì anh V hỏi D về nguồn gốc chiếc xe. D nói với anh V là chiếc xe của D mua lại của người bác đã chết. Giấy đăng ký và biển kiểm soát đang để ở nhà. Anh V kiểm tra thì thấy số khung, số máy của xe không có dấu hiệu bị phá nên đồng ý mua xe với giá 6.000.000 đồng. Anh V bảo D cung cấp số điện thoại, căn cước công dân, số tài khoản ngân hàng để kiểm tra. Sau khi xác minh các giấy tờ trên đều là của D nên anh V sử dụng số tài khoản 19035970093019 tại Ngân hàng Techcombank, tên tài khoản DO QUANG VY của anh V chuyển số tiền 6.000.000 đồng đến số tài khoản 0393361204 tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong, tên tài khoản TRAN THE D của D. Đồng thời, D viết giấy mua bán xe cam kết “xe bao pháp lý nguồn gốc rõ ràng, nếu có gì sai tôi xin chịu trước pháp luật” và hứa sẽ về nhà mang giấy tờ và biển kiểm soát đến cho anh V. Sau đó, D cầm túi nilon chứa chiếc biển kiểm soát 99D1-396.21 đi về. Số tiền bán xe D đã tiêu xài cá nhân hết. Buổi tối cùng ngày, anh V kiểm tra chiếc xe vừa mua của D thì phát hiện tại hốc để đồ phía trước xe có Chứng minh nhân dân của chị Th. Anh V nhận ra chị Th là bạn học cùng anh V nên anh V đã liên hệ với chị Th để hỏi về nguồn gốc chiếc xe thì biết việc chiếc xe chị Th đã bị trộm cắp. Đến ngày 06/9/2025, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của bản thân Trần Thế D đã đến Công an xã Y đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời giao nộp chiếc biển kiểm soát 99D1-396.21. Cùng ngày, anh Đỗ Quang V tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô Honda Lead màu đỏ đen, BKS: 99D1-396.21 mà D trộm cắp của chị Th cho Cơ quan Công an để phục vụ điều tra.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ đen, BKS: 99D1-396.21, số máy: JF79E0561169, số khung: RLHJF791XHZ207624.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 231/KL-ĐGTS ngày 22/9/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng tỉnh Bắc Ninh kết luận: “- 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ đen, BKS: 99D1-396.21, số máy: JF79E0561169, số khung: RLHJF791XHZ207624 (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 05/9/2025 là: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng)”.

Cáo trạng số: 26/CT-VKSKV7 ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Trần Thế D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và thừa nhận Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Thế D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Trần Thế D 8-10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 06/9/2025 đến ngày 14/9/2025.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 23/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả lại chiếc xe nêu trên và chiếc biển kiểm soát 99D1-396.21 cho chị Nguyễn Thị Th. Chị Th đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Cùng ngày, D đã trả lại anh Đỗ Quang V số tiền 6.000.000 đồng. Anh V đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi âm hỏi cung bị cáo.

Bị cáo không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên. Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/9/2025, Trần Thế D đi từ nhà ở thôn T, xã Trung Nghĩa đến thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa chơi. Khi D đi qua nhà chị Nguyễn Thị Th thì thấy cửa cổng không khóa, bên trong sân nhà chị Th dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ đen, BKS: 99D1-396.21 không khóa cổ, khóa càng, chìa khóa treo ở phía trước xe. Lợi dụng sơ hở, D đã trộm cắp chiếc xe trên rồi mang đến cửa hàng xe máy “Đạt V” và bán cho cho anh Đỗ Quang V được số tiền 6.000.000 đồng. Số tiền bán xe D đã tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe D trộm cắp của chị Th có giá trị là 15.000.000 đồng. Hiện chiếc xe đã được thu hồi trả lại cho chị Th.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hành vi: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của Công dân được pháp luật bảo vệ, tạo dư luận xấu, gây bức xúc trong xã hội và hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình sự mới đảm bảo giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, HĐXX nhận thấy:

Bị cáo D có 01 tiền sự chưa được xoá, cụ thể tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 211/QĐ-XPHC ngày 29/4/2025 của UBND xã Đông Phong, huyện Y (cũ) nay là xã Tam Đa, tỉnh Bắc Ninh xử phạt D về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng. Ngày 03/6/2025, D chấp hành xong việc nộp phạt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D tham gia nghĩa vụ quân sự từ tháng 02 năm 2023, D thực hiện nghĩa vụ quân sự đến tháng 01 năm 2025 xuất ngũ về địa phương và trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh. Hội đồng xét xử xét thấy, trong vụ án bị cáo D có hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không có tiền án, nhưng có tiền sự đã chấp hành xong hình phạt và chưa được xoá, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Mức hình phạt như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 23/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả lại chiếc xe nêu trên và chiếc biển kiểm soát 99D1-396.21 cho chị Nguyễn Thị Th. Chị Th đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Cùng ngày, D đã trả lại anh Đỗ Quang V số tiền 6.000.000 đồng. Anh V đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Về các vấn đề khác: Liên quan trong vụ án này có anh Đỗ Quang V là người đã mua chiếc xe do D trộm cắp. Tuy nhiên khi mua bán xe, do D nói dối nên anh V không biết về nguồn gốc chiếc xe. Sau khi phát hiện chiếc xe do D phạm tội mà có anh V đã chủ động giao nộp lại cho Cơ quan Công an. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh không xem xét, xử lý đối với anh V là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Trần Thế D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thế D 9 (chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 6/9/2025 đến ngày 14/9/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thế D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ