vanban.org

Bản án 41/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Trương VL phạm tội "Cướp giật tài sản".

* Xử phạt: Bị cáo Trương VL 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024. * Về biện pháp tư pháp: Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị TH số tiền 4.800.000 đồng (Bốn triệu, tám trăm nghìn đồng), theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 127/2025/THA, hồi 08 giờ 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TVL phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Trương VL phạm tội "Cướp giật tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC I - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HSST
Ngày: 08/9/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Oanh

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoa - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Đào Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/HSST, ngày 12 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST - HS, ngày 27 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trƣơng VL - sinh năm 1995. Giới tính: Nam. Căn cước công dân số: 040095032113. Nơi cư trú: Xóm Bục, xã ĐV, huyện Tân Kỳ (nay là xóm Bục, xã TĐ), tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Thổ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Trương Văn Nhu và bà Trương Thị Hiệp. Vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 12/8/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2022, chưa được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/10/2024, chuyển tạm giam ngày 24/10/2024 đến nay, tại Phân trại tạm giam Thanh Hóa (có mặt).

* Người bị hại:

1. Anh Lê ĐM - sinh năm 1973. Nơi cư trú: Phố 6, phường ĐC, thành phố Thanh Hóa (nay là phố 6, phường HR), tỉnh Thanh Hóa, (có mặt).

2. Chị Lê TQ - sinh năm 1973. Nơi cư trú: Số 14/39 Bến Ngự, phường TT, thành phố Thanh Hóa (nay là số 14/39 Bến Ngự, phường HT), tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị TH - sinh năm 1996. Nơi cư trú: Số 549 Nguyễn Trãi, phường PS, thành phố Thanh Hóa (nay là số 549 Nguyễn Trãi, phường HT), tỉnh Thanh Hóa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn TTT - sinh năm 1984. Nơi cư trú: Phố 4, phường ĐC, thành phố Thanh Hóa (nay là phố 4, phường HR), tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

2. Anh Lê VN - sinh năm 1986. Nơi cư trú: Số 53 Hạc Oa, phường ĐC, thành phố Thanh Hóa (nay là số 53 Hạc Oa, phường HR), tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

3. Chị Lê TB - sinh năm 2002. Nơi cư trú: Số 14 Nguyễn MT, phường NN, thành phố Thanh Hóa (nay là số 14 Nguyễn MT, phường HR), tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/10/2024, Trương VL điều khiển xe máy từ thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đi ra thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trước khi đi, Luyện dán card vidit che BKS xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, màu đỏ đen, BKS 59H1-932.88, đội mũ bảo hiểm trùm kín đầu, sử dụng phần mềm Google Map của điện thoại Samsung A52 để tìm đường.

Đến khoảng 18 giờ ngày 17/10/2024, Trương VL điều khiển xe máy đến khu vực trước cổng Trường Cao đẳng nghề tại đường Đình Hương, phường ĐC, thành phố Thanh Hóa, phát hiện anh Lê ĐM đang đi xe đạp một mình theo hướng ngược chiều, trên cổ anh Minh đeo sợi dây chuyền màu vàng nên Luyện nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Luyện điều khiển xe bám sát phía sau, đến trước số nhà 202 Đình Hương, phường ĐC, thành phố Thanh Hóa, Luyện áp sát vào xe anh Minh, dùng tay giật sợi dây chuyền trên cổ anh Minh và bỏ chạy về phía phường Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa tẩu thoát. Sau khi giật được dây chuyền, Luyện mang đến tiệm vàng Kim Vân số 549 Nguyễn Trãi, phường PS, thành phố Thanh Hóa bán cho chị Hà Thị TH (chủ tiệm vàng), chị Hương cân sợi dây chuyền có khối lượng 6,6 chỉ nên thanh toán cho Luyện số tiền 19.800.000 đồng, trong đó trả 4.800.000 đồng tiền mặt và chuyển vào tài khoản của Luyện số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi mua sợi dây chuyền, chị Hương đã phân kim chuyển sang vàng 24K.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Luyện tiếp tục điều khiển xe máy đi trên đường Lê Hoàn, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa để tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Phát hiện chị Lê TQ điều khiển xe mô tô BKS 36B2-382.89 chở con gái là Lê TB trên cổ đeo một sợi dây chuyền màu vàng, Luyện điều khiển xe máy đi theo phía sau. Đến trước số nhà 40 Lê Hoàn, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, Luyện vượt xe lên, áp sát xe của chị Quy từ bên phải, dùng tay trái giật đứt dây chuyền của chị Quy rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về phía Đại lộ Nguyễn Hoàng, chạy xe ra Thành phố Hà Nội. Sợi dây chuyền có mặt hình bông hoa giật được của chị Quy thì Luyện cất giấu trong người. Đến tối ngày 18/10/2024, Luyện đi đến khu vực thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì bị tổ tuần tra Công an thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh kiểm tra có nhiều nghi vấn nên đưa về trụ sở làm việc. Công an thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã bàn giao Luyện cùng các tang vật có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thanh Hóa.

Theo báo cáo của anh Lê ĐM, tài sản anh bị cướp giật là sợi dây chuyền (gồm dây và mặt, có tổng khối lượng 1,6 cây vàng 10K ) mua vào năm 2018 với giá 28.000.000 đồng.

Theo báo cáo của chị Lê TQ, sợi dây chuyền chị bị cướp giật là dây chuyền vàng 10K, khối lượng 03 chỉ, chị mua tại tiệm vàng Ngọc Minh ở số 47 Cao Thắng, phường Lam Sơn, thành phố Thanh Hóa với giá 6.000.000 đồng, kèm theo dây có mặt hình bông hoa (hàng mỹ ký, mua với giá 150.000 đồng).

Tại Bản kết luận giám định số: 3992/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận trên mẫu vật là chiếc dây chuyền thu giữ được trên người của Trương VL gửi giám định gồm: 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng dài khoảng 56 cm, các mắt dây chuyền hình ô van, một mắt có ký hiệu “10k-QPT”; 01 (một) mắt dây chuyền kim loại hình bông hoa đường kính khoảng 2,5 cm, ở giữa có đính một viên đá màu xanh lá cây, có cánh hoa màu vàng, có cánh gắn đá nhỏ màu trắng có ADN của người nữ giới; ADN người nữ giới này trùng khớp với ADN của chị Lê TQ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 104/KL-HĐĐG ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa kết luận:

- 01 (một) dây chuyền vàng loại 10K (Cướp giật của chị Lê TQ), khối lượng 6,67 gam hàng lượng trung bình vàng 40,85%; bạc 7,59% có giá trị 7.322.000 đồng; 01 mặt dây chuyền hình bông hoa làm bằng hợp kim đồng; kẽm khối lượng 4,31 gam hàm lượng trung bình đồng 71,12%; kẽm 28,88% có trị giá 150.000 đồng;

- 2,5 (hai phẩy năm) chỉ vàng, loại 24K được xác định là số vàng nấu chảy từ sợi dây chuyền vàng mà Luyện cướp giật của anh Lê ĐM có trị giá là 21.075.000 đồng;

- 01 (một) dây chuyền vàng loại 10K, trọng lượng 6,6 chỉ có trị giá là 19.800.000 đồng.

Đối với sợi dây chuyền cùng mặt dây chuyền vàng loại 10K, khối lượng 1,6 cây (trong đó sợi dây có trọng lượng 6,6 chỉ, mặt dây chuyền vàng trọng lượng 9,4 chỉ) mà anh Lê ĐM khai báo bị Trương VL chiếm đoạt. Tuy không thu được mặt dây chuyền, nhưng có căn cứ xác định anh Minh bị giật mất cả sợi dây cùng mặt dây. Xác định tổng trị giá tài sản của anh Lê ĐM bị chiếm đoạt là 48.000.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản Trương VL chiếm đoạt trong ngày 17/10/2024 là 55.472.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, bốn trăm bảy hai nghìn đồng).

* Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa thu giữ từ Trương VL gồm: 01 (một) dây chuyền kim loại màu trắng bạc chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, không có móc khóa và 01 thanh kim loại màu trắng bạc hai đầu đều uốn cong dạng móc khóa; 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng đã bị đứt được chế tạc dạng các mắt xích hình trụ tròn nối với nhau, trên móc khóa có các chữ, số “ S10K HP HL”; 01 (một) vòng đeo tay kim loại màu trắng chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, ở giữa vòng có một thanh kim loại cong có các chữ “NXV” và 01 khối kim loại màu trắng; 01 (một) vật hình con rùa bằng kim loại màu vàng có nhiều hoa văn. Quá trình điều tra xác định những đồ vật trên là tài sản hợp pháp của Trương VL nên xử lý bằng hình thức trả lại cho Luyện.

- Dây chuyền vàng loại 10K, khối lượng 6,67 gam và 01 mặt dây chuyền hình bông hoa làm bằng hợp kim đồng, kẽm khối lượng 4,31 gam được xác định đây là tài sản của chị Lê TQ, nên Cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại cho chị Quy theo quy định.

- Số tiền 4.800.000 đồng thu giữ của Trương VL. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền do Luyện phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra chuyển Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định.

- Các công cụ, phương tiện bị can Trương VL sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, BKS 59H1-932.88, có đăng ký xe tên Tô Thị Thanh Loan; 01 điện thoại Samsung A52 màu tím gắn thẻ sim; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, đen, xám loại mũ chùm kín đầu. Quá trình điều tra xác định đây là những công cụ, phương tiện mà Luyện sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa) ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thanh Hóa) để xử lý theo quy định.

- Nhẫn vàng thu giữ tại tiệm vàng Kim Vân có tổng khối lượng 2,5 chỉ vàng, loại 24K được xác định là số vàng nấu chảy từ sợi dây chuyền vàng của bị hại Lê ĐM, nên Cơ quan điều tra xử lý bằng hình thức trả lại cho anh Minh theo quy định.

- Đối với 01 USB 16Gb hiệu Toshiba màu trắng bạc bên trong có đoạn video cắt ra từ camera an ninh số nhà 64 Đình Hương, phường ĐC, thành phố Thanh Hóa ghi được hình ảnh liên quan đến việc Trương VL thực hiện hành vi giật dây chuyền của anh Minh và 01 USB nhãn hiệu Kingston dung lượng 02GB, màu xanh bên trong có chứa đoạn clip ghi lại sự việc Trương VL đến bán sợi dây chuyền vàng giật được của anh Lê ĐM tại tiệm vàng Kim Vân, Cơ quan điều tra chuyển cùng hồ sơ vụ án.

- Đối với chị Hà Thị TH (chủ tiệm vàng Kim Vân) là người đã mua sợi dây chuyền của Trương VL với giá 19.800.000 đồng, chị Hương không biết tài sản do Luyện phạm tội mà có, nên không có căn cứ để xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê TQ đã nhận lại được sợi dây chuyền và mặt dây chuyền, nên không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường dân sự.

- Anh Lê ĐM trong thời gian chuẩn bị xét xử gia đình Trương VL đã thỏa thuận bồi thường số tài sản còn lại, anh Minh đã nhận đầy đủ và không có đề nghị gì thêm.

- Chị Hà Thị TH trong thời gian chuẩn bị xét xử gia đình Trương VL đã tự nguyện bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, còn lại 4.800.000 đồng chị Hương yêu cầu Luyện tiếp tục bồi thường.

* Tại bản Cáo trạng số: 173/CT-VKS ngày 02/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa) đã truy tố bị cáo Trương VL về tội “Cướp giật tài sản”, theo điểm c, d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương VL phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Đề nghị áp dụng điểm c, d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương VL từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại anh Lê ĐM, chị Lê TQ đã được bồi thường đầy đủ, không đề nghị gì thêm, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị TH còn lại số tiền 4.800.000 đồng bị cáo chưa bồi thường, buộc bị cáo Luyện tiếp tục bồi thường cho chị Hương.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52 màu tím gắn thẻ sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, BKS 59H1-932.88, có đăng ký xe tên Tô Thị Thanh Loan là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Số tiền 4.800.000 đồng tịch thu của bị cáo Luyện là tiền bị cáo bán vàng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị TH mà có, cần trả lại số tiền trên cho chị Hương là phù hợp với quy định.

Về chiếc mũ bảo hiểm của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy, vì không còn giá trị sử dụng.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Trương VL đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo đã thống nhất với lời khai của những người bị hại, người liên quan và những người tham gia tố tụng khác về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 17/10/2024, Trương VL điều khiển xe máy theo sau anh Lê ĐM đi xe đạp, đến trước số nhà 202 Đình Hương, phường ĐC, thành phố Thanh Hóa thì áp sát, dùng tay giật sợi dây chuyền vàng loại 10K trên cổ anh Minh rồi tăng ga bỏ chạy về phía phường Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa tẩu thoát. Sau đó, Luyện mang đến tiệm vàng Kim Vân số 549 Nguyễn Trãi, phường PS, thành phố Thanh Hóa bán cho chị Hà Thị TH được số tiền 19.800.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Luyện tiếp tục điều khiển xe máy đi theo phía sau chị Lê TQ đi xe máy chở con gái là chị Lê TB đến trước số nhà 40 Lê Hoàn, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, Luyện vượt lên áp sát xe của chị Quy từ bên phải, dùng tay trái giật đứt dây chuyền của chị Quy rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy. Luyện di chuyển ra Thành phố Hà Nội, đến tối ngày 18/10/2024, Luyện đi đến khu vực thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì bị Tổ tuần tra Công an thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh kiểm tra, phát hiện và tạm giữ. Tài sản Trương VL chiếm đoạt có tổng trị giá là 55.472.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, bốn trăm bảy hai nghìn đồng).

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa) truy tố bị cáo Trương VL về tội “Cướp giật tài sản”, theo điểm c, d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, bởi hành vi sử dụng xe mô tô đi vào trung tâm thành phố, cướp giật tài sản, bất chấp giữa chốn đông người của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản, nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trương VL tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người liên quan. Người bị hại, người liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có ông Nội là người có công với Cách Mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba và là người dân tộc thiểu số. Cho nên, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng tránh nhiệm hình sự đó là “Phạm tội 02 lần tở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận xét đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, xét thấy bị cáo thuộc đối tượng không có việc làm, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lê ĐM, chị Lê TQ đã được bồi thường đầy đủ, không đề nghị gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị TH còn lại số tiền 4.800.000 đồng bị cáo chiếm đoạt. Cần trả lại cho chị Hương số tiền 4.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Luyện, là số tiền còn lại bị cáo bán vàng cho chị Hương là phù hợp với quy định.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52 màu tím gắn thẻ sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, BKS 59H1-932.88, có đăng ký xe tên Tô Thị Thanh Loan là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ đen của bị cáo, vì không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố: Bị cáo Trương VL phạm tội "Cướp giật tài sản".

* Xử phạt: Bị cáo Trương VL 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024.

* Về biện pháp tư pháp: Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị TH số tiền 4.800.000 đồng (Bốn triệu, tám trăm nghìn đồng), theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 127/2025/THA, hồi 08 giờ 00 phút ngày 06/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Thanh Hóa).

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52 màu tím gắn thẻ sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, BKS 59H1-932.88, có đăng ký xe tên Tô Thị Thanh Loan. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ đen. Số vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 127/2025/THA, hồi 08 giờ 00 phút ngày 06/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Thanh Hóa).

* Về án phí: Buộc bị cáo Trương VL phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo, người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ