- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 22 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày 05-03-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP.VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hải
2. Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa– Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Minh L, sinh năm 1989 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: H đường L, Phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi ở trước khi bị bắt: M đường T, phường H, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T, sinh năm 1968 và bà Lưu Thị A, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 118/HSST ngày 01-04-2008, bị Tòa nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26-4-2013.
Bị bắt ngày 21-10-2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (có mặt).
Bị hại: Trương Văn K, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số N đường Đ, Phường T, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; Địa chỉ: khu phố S, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 20-10-2024, Lê Minh L từ thành phố Bà Rịa đi xe Buýt đến phòng trọ của chị Hoàng Thị T tại địa chỉ số S đường Đ, Phường B, thành phố Vũng Tàu chơi. Sau đó, khoảng 10 giờ 05 phút, Luân đi bộ qua gần trường Trung học phổ thông Lê Hồng Phong để nhờ bạn chở về Bà Rịa nhưng không gặp được bạn nên Luân đi theo hẻm số B đường Đ, Phường T, thành phố Vũng Tàu để về lại phòng trọ của T. Khi đi ngang qua nhà số B đường Đ, Phường T, thành phố Vũng Tàu, L thấy nhà không khóa cửa cổng, bên trong có 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu V-KET màu đỏ, đen, vàng của ông Trương Văn K để ngay cửa ra vào không có ai trông coi nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe đạp, L liền lén lút đi bộ vào sân nhà và dắt xe đạp trên ra rồi điều khiển xe về phòng trọ của T, về đến nơi không thấy T ở nhà, L sợ bị phát hiện nên L đã tháo 01 bọc yên xe đạp, 01 đèn cảnh báo màu đỏ phía sau đuôi xe, 01 tấm nilong màu xanh rằn ri ra rồi bỏ vào bên trong 01 túi nilong mang theo bên người, riêng 01 túi đựng gắn sườn xe đạp hiệu Rockbros thì L đưa cho Lê Thắng T ở phòng trọ kế bên phòng của Thủy sử dụng. Sau đó, L đạp xe từ thành phố Vũng Tàu về phòng trọ của gia đình L thuê tại địa chỉ khu phố S, phường S, thành phố Bà Rịa. Tại đây, L bán cho ông Nguyễn Văn T xe đạp trên với giá 1.500.000 đồng. Sau khi bán xe xong, L ra đường quốc lộ bắt xe khách xuống lại nhà trọ của T. Toàn bộ số tiền có được, L đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết. Đến ngày 21-10-2024, Lê Minh L bị Cơ quan điều tra bắt giữ.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Vũng Tàu đã thu giữ tài liệu, đồ vật và vật chứng gồm:
- 01 nón lưỡi trai bằng vải màu xanh rằn ri có dòng chữ JEEP SPIRIT; 01 quần thun màu đen. Hiện chuyển cơ quan Thi hành án thành phố Vũng Tàu quản lý chờ xử lý.
- 01 tấm nilong có một mặt màu xanh rằn ri, một mặt màu xanh lục có kích thước 2,77m x 1,65m; 01 vỏ bọc yên xe đạp hiệu ROCKBROS model: LS034 màu đen, hai bên hông phần đệm mông màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 đèn cảnh báo bằng nhựa (phần pha đèn bằng nhựa màu đỏ, phần thân bằng nhựa màu đen) kích thước 10,5cm x 3,5cm x 2 cm, sử dụng nguồn điện 02 Pin, loại Pin AAA; 01 túi đựng đồ gắn sườn xe đạp hiệu Rockbros; 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu V.KET SVRC 901. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại.
Kết luận định giá tài sản số 145/KL-HĐĐG-TTHS ngày 23-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Vũng Tàu kết luận: 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu V.KET SVRC 901 có giá trị 5.500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKSVT ngày 10-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố Lê Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh L từ 9 đến 12 tháng tù giam. Về xử lý vật chứng: 01 nón lưỡi trai bằng vải màu xanh rằn ri có dòng chữ JEEP SPIRIT và 01 quần thun màu đen không còn giá trị sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra thành phố Vũng Tàu và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận khoảng 10 giờ 05 phút ngày 20-10-2024 tại số B đường Đ, Phường T, thành phố Vũng Tàu bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản là chiếc xe đạp nhãn hiệu V-KET màu đỏ, đen, vàng của bị hại có trị giá là 5.500.000 đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và bị hại, phù hợp với kết quả định giá và các tài liệu, chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra lại tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Nhân thân bị cáo đã từng bị kết án hình phạt nghiêm nhưng nay vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
. Về xử lý vật chứng: 01 nón lưỡi trai bằng vải màu xanh rằn ri có dòng chữ JEEP SPIRIT, 01 quần thun màu đen là tài sản của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại. Tài sản này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại xác định đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Minh L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 10 năm 2024.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; tịch thu, tiêu hủy: 01 nón lưỡi trai bằng vải màu xanh rằn ri có dòng chữ JEEP SPIRIT, 01 quần thun màu đen.
(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 70/ BB-CCTHADS ngày 13 tháng 01 năm 2025).
4. Án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a Điều 22 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV27); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND Tp. Vũng Tàu; - Công an Tp. Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp. Vũng Tàu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hương |