- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Huỳnh Thành C phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày: 04/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chất
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Trường
Ông La Văn Hợp
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị D My - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai (Cơ sở 1) và điểm cầu thành phần Phân Trại tạm giam khu vực Đồng Xoài – Trại tạm giam số 2 C an tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thành C; Tên gọi khác: T, sinh năm: 1983, tại Bình Phước (nay là tỉnh Đồng Nai); Địa chỉ nơi cư trú: Đội 1, ấp P, xã T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (nay là đội 1, ấp P, xã Đ, tỉnh Đồng Nai); Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Huỳnh Văn T, sinh năm 1960 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị B sinh năm 1961 (còn sống); Vợ: Hoàng Thị U, sinh năm 1988 (còn sống); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo có 02 người con sinh năm 2008, 2015.
Tiền án: 01
Ngày 04/01/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai) tuyên tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 01/2023/HSST, đến ngày 02/5/2025 bị cáo chấp hành xong án phạt tù.
Tiền sự: Ngày 12/4/2022, bị C an thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là C an phường Bình Phước, tỉnh Đồng Nai) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa chấp hành.
Nhân thân:
Ngày 27/8/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai) tuyên phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 119/HSST ngày 27/8/2003;
Ngày 25/02/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai) tuyên phạt tổng hợp 04 năm tù về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản và cưỡng đoạt tài sản” theo bản án số 03/HSST ngày 25/02/2004;
Ngày 28/10/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai) tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 133/HSST ngày 28/10/2016;
Ngày 16/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai) tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 56/HSST ngày 16/6/2022;
Ngày 03/02/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Đồng Xoài (cũ) Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 30 tháng.
Ngày 11/11/2015, bị C an thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là Công an phường Bình Phước, tỉnh Đồng Nai) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2025 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Bà Lương Thị D - Sinh năm 1989; Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, (nay là Ấp T, xã Đ, tỉnh Kiên Giang); Chỗ ở hiện nay: Ấp 2, xã T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố T, phường Đ, tỉnh Đồng Nai) (Có đơn xin vắng).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1996; Địa chỉ: khu phố B, Phường T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là khu B, phường B, tỉnh Đồng Nai) (Vắng).
2. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1990; Địa chỉ thường trú: Tổ 1, ấp 1, xã N, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước (nay là Tổ 1, ấp 1, xã N, tỉnh Đồng Nai); Chỗ ở hiện nay: ấp 2, xã N, huyện C, tỉnh Bình Phước (nay là ấp 2, xã N, tỉnh Đồng Nai) (Vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 08/5/2025, Huỳnh Thành C đi nhờ xe mô tô của chị Lê Thị Phương H, sinh năm: 1992, nơi thường trú: khu phố P, phường T, thành phố Đồng Xoài (nay là khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai) từ ấp P, xã T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (nay là ấp P, xã Đ, tỉnh Đồng Nai) đến khu vực trường trung cấp y tế thuộc khu phố 1, phường T, thành phố Đồng Xoài (nay là khu phố T, phường Đ, tỉnh Đồng Nai) để tìm bạn của C. Khi đến khu vực trường trung cấp y tế, C xuống xe rồi đi bộ đến khu vực dãy nhà trọ thuộc ấp 2, xã T, thành phố Đồng Xoài (nay là khu phố T, phường Đ, tỉnh Đồng Nai). Tại đây, C phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát (BKS): 93P1-56x.xx của bà Lương Thị D, sinh năm: 1989, nơi thường trú: ấp T, xã Đông T, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang) đang dựng trước phòng trọ, trên xe có để sẵn chìa khóa và 01 mũ bảo hiểm màu đỏ - đen -trắng nên C nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô trên. C đi đến vị trí xe mô tô, mở khóa xe rồi điều khiển xe bỏ chạy. Lúc này, bà D đang nằm ngủ trên võng trong lô cao su ở đối diện phòng trọ (cách xe mô tô khoảng 4m) nghe thấy tiếng nổ máy xe thì tỉnh dậy phát hiện, truy hô “Cướp, cướp” và đuổi theo nhưng không kịp.
Sau khi lấy trộm được xe mô tô trên, C điều khiển xe đi đến tiệm cầm đồ “5555” của ông Nguyễn Văn L thuộc khu phố B, phường T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố B, phường B, tỉnh Đồng Nai) cầm cố với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền lãi suất 200.000 đồng/tháng, ông L đưa cho C số tiền 1.800.000 đồng. Sau đó, C đi đến nhà ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1997, trú tại khu phố T, phường T, thành phố Đồng Xoài (nay là khu phố T, phường B, tỉnh Đồng Nai) chơi rồi ngủ tại đây, số tiền trên C đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 09/5/2025, bà Lương Thị D đến C an xã T (nay là Công an phường Đ) trình báo sự việc.
Đến ngày 12/5/2025 Huỳnh Thành C đến Công an xã Tân Thành (nay là C an phường Đ) đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại Bản cáo trạng số 15/CTr-VKS ngày 04/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Huỳnh Thành C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bị cáo Huỳnh Thành C mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng vụ án:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ-đen, BKS: 93P1-56x.xx,,, đã qua sử dụng và 01 mũ bảo hiểm màu đỏ - đen - trắng, trên mũ có chữ Dung Vuong “Head System xe máy Dung Vượng, Hotline 1080545xxx” là tài sản hợp pháp của bà Lương Thị D. Ngày 10/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà D quản lý, sử dụng nên đề nghị không xem xét.
Đối với 01 đôi dép nhựa màu trắng, trên bề mặt dép có chữ “MWC” đã mờ; 01 quần Jean màu xám xanh phía trước bạc nàu; 01 áo thun nam không cổ cũ màu xanh dương sọc đen là tài sản hợp pháp của bị cáo Huỳnh Thành C sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại bà D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Đề nghị tuyên buộc bị cáo C có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền 1.800.000 đồng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Thành C đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai đã truy tố, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 15/CTr-VKS ngày 04/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai.
Xét lời khai tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản thu giữ tài sản, đồ vật, kết luận điều tra, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra C khai tại phiên tòa, thấy phù hợp về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, chầy lười lao động nên vào ngày 08/5/2025, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ - đen, BKS: 93P1-56x.xx trị giá 6.500.00 đồng và 01 mũ bảo hiểm màu đỏ - đen - trắng trị giá 20.000 đồng của bà Lương Thị D tại ấp 2, xã T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố Tân Thành 2, phường Đ, tỉnh Đồng Nai), tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 6.520.000 đồng.
Căn cứ hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 6.520.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Huỳnh Thành C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt là hành vi phạm tội nhưng vì mục đích vụ lợi, chầy lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 04/01/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai) tuyên tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 01/2023/HSST, đến ngày 02/5/2025 bị cáo chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Ngày 12/4/2022, bị Công an thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là Công an phường B, tỉnh Đồng Nai) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa chấp hành.
[5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và có con còn nhỏ.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo C đồng ý hoàn trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền 1.800.000 đồng nên cần ghi nhận thgeo quy định pháp luật.
[7]. Vật chứng vụ án:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ-đen, BKS: 93P1-56x.xx, đã qua sử dụng và 01 mũ bảo hiểm màu đỏ - đen - trắng, trên mũ có chữ Dung Vuong “Head System xe máy Dung Vượng, Hotline 1080545xxx” là tài sản hợp pháp của bà Lương Thị D. Ngày 10/7/2025, Cơ quan CSĐT C an tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà D quản lý, sử dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 đôi dép nhựa màu trắng, trên bề mặt dép có chữ “MWC” đã mờ; 01 quần Jean màu xám xanh phía trước bạc nàu; 01 áo thun nam không cổ cũ màu xanh dương sọc đen là tài sản hợp pháp của bị can Huỳnh Thành C sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[8]. Đối với ông Nguyễn Văn L là người cầm cố xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ - đen, BKS: 93P1-56x.xx cho bị cáo C. Quá trình điều tra xác định, khi ông L cầm cố xe mô tô, không biết xe mô tô trên do phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bà Lê Thị Phương H là người được bị cáo C nhờ chở đến khu vực trường trung cấp y tế tỉnh Bình Phước, quá trình điều tra bà H không biết bị cáo đi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
2. Về hình phạt
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thành C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2025.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu trắng, trên bề mặt dép có chữ “MWC” đã mờ; 01 quần Jean màu xám xanh phía trước bạc nàu; 01 áo thun nam không cổ cũ màu xanh dương sọc đen
(Số vật chứng trên đã được chuyển cho Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo phiếu nhập số 24/2025/NK ngày 03/9/2025).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Huỳnh Thành C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 9 – Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai. - PC02 C an tỉnh Đồng Nai; - Phòng PV 06 C an tỉnh Đồng Nai; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Võ Chất |