vanban.org

Bản án 41/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Minh Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Minh Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2025. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ Luật hình sự; các Điều 584, Điều 585 và Điều 586 của Bộ Luật dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Pha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Minh Quyền phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Minh Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST
Ngày 23/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Hoàng Thị Thanh, ông Nguyễn Duy Chấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HS, ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Minh Q, tên gọi khác: Wave; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/02/2001, tại tỉnh Đắk Nông; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phan Minh Q1, sinh năm 1977, trú tại huyện C, Tp .; con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Tiền án: Không; Tiền sự: 04 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC, ngày 28/6/2022 của Công an huyện Đ, quyết định xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bị cáo chưa chấp hành). Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 584/QĐ- XPHC, ngày 03/4/2023 của Công an huyện Đ, quyết định xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức (Bị cáo chưa chấp hành). Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC, ngày 29/10/2024 của Công an xã Đ, huyện Đ, quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (Bị cáo chưa chấp hành). Tại Quyết định Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý số 149/QĐ-UBND(CAX), ngày 05/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, quyết định Áp dụng thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý là 01 năm, kể từ ngày 29/10/2024 (Bị cáo chưa chấp hành xong). Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC, ngày 20/3/2025 của Công an xã Đ, huyện Đ, quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (Bị cáo chưa chấp hành).

Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị bắt tạm giam từ ngày 18/4/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ, Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn một thành viên Q2; địa chỉ: D L, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Phan Uyên B – Chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: D L, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn E, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/3/2025, do bực tức việc ông ngoại là Nguyễn Đắc T1 (sinh năm 1956, trú tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) chửi bới và không chở vào xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để thăm mẹ đẻ nên Phan Minh Q một mình đi bộ từ nhà ông ngoại đến khu vực chợ T2 thuộc thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông mục đích để tìm xe ô tô lưu thông trên đường H (Quốc lộ A) để ném đá cho đỡ bực tức. Khi đi đến khu vực chợ T2, Quyền phát hiện bên lề đường có hai cục đá bằng bê tông xi măng (cục thứ nhất có kích thước 07cm x 07cm x 04cm; cục thứ hai có kích thước 10cm x 10cm x 12cm), Q dùng hai tay nhặt hai cục đã lên mục đích để ném xe ô tô. Lúc này, anh Huỳnh Minh T (sinh năm 1983, trú tại thôn E, xã A, Tp ., tỉnh Gia Lai) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 81H – 004.76, kéo theo Sơ mi rơ mooc biển số 81H – 008.76 (xe của Công ty TNHH MTV Q2, địa chỉ D L, phường H, Tp ., tỉnh Gia Lai) lưu thông trên đường H (Quốc lộ A) theo hướng huyện C đi huyện Đ, khi cách vị trí Q đứng khoảng hơn 20m thì Q dùng tay phải cầm cục đá (kích thước 07cm x 07cm x 04cm) đưa lên cao, qua phía sau đầu ném cục đã trúng vào phần kính chắn gió phía trước của xe ô tô đầu kéo biển số 81H – 004.76, làm kính chắn gió bị bể vỡ, thấy kính chắn gió phía trước của xe đầu kéo bị bể vỡ thì Q thả cục đá còn lại xuống đất rồi đi về. Tại Cơ quan điều tra, Phan Minh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS, ngày 14/3/2025 của Hội đồng Định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kết luận tấm Kính chắn gió kích thước 2,25m x 0,8m, dày 0,7mm phía trước của xe ô tô đầu kéo biển số 81H – 004.76, kéo theo Sơ mi rơ mooc biển số 81H – 008.76, bị hư hỏng, thiệt hại là 3.500.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 42/CT-VKS(ĐM), ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Phan Minh Q về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, bị cáo Phan Minh Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”:

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Minh Q mức án từ 09 đến 12 tháng tù

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại 01 ô tô đầu kéo biển số 81H – 004.76, kéo theo Sơ mi rơ mooc biển số 81H – 008.76 cho chủ sở hữu hợp pháp.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cục đá bằng bê tông xi măng (kích thước 07cm x 07cm x 04cm); 01 cục đá bằng bê tông xi măng (kích thước 10cm x 10cm x 12cm), do không còn giá trị sử dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH MTV Q2 yêu cầu bị cáo bồi thường 7.745.600 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bị hại đã thỏa thuận thống nhất được việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho Công ty Q2 số tiền 5.745.600 đồng là phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo Phan Minh Q đã khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/3/2025, tại thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do bực tức vì ông ngoại chửi bới và không chở đến nhà mẹ đẻ nên Phan Minh Q đã có hành vi vô cớ dùng cục đá bằng bê tông xi măng (kích thước 07cm x 07cm x 04cm) ném vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô đầu kéo biển số 81H – 004.76, kéo theo Sơ mi rơ mooc biển số 81H – 008.76 của Công ty TNHH MTV Q2 (do anh Huỳnh Minh T là tài xế điều khiển) làm kính chắn gió bị bể vỡ, hư hỏng, thiệt hại là 3.500.000 đồng.

Hội đồng xét xử thấy, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân huyện Đ đã truy tố; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hô ̣i đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phan Minh Q đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

. Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác là quyền bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức pháp luật để biết được hành vi của mình là vì phạm pháp luật, nhưng do coi thường pháp luật, coi thường tài sản của người khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có tính chất côn đồ được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC, ngày 28/6/2022 của Công an huyện Đ, quyết định xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (bị cáo chưa chấp hành). Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 584/QĐ- XPHC, ngày 03/4/2023 của Công an huyện Đ, quyết định xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức (bị cáo chưa chấp hành). Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC, ngày 29/10/2024 của Công an xã Đ, huyện Đ, quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (bị cáo chưa chấp hành). Tại Quyết định Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý số 149/QĐ-UBND(CAX), ngày 05/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, quyết định Áp dụng thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý là 01 năm, kể từ ngày 29/10/2024 (bị cáo chưa chấp hành xong). Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC, ngày 20/3/2025 của Công an xã Đ, huyện Đ, quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (bị cáo chưa chấp hành).

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bị hại đã thỏa thuận thống nhất được việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 5.745.600 đồng. Xét thấy, việc thoả thuận giữa bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng: Xét thấy cần căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại 01 ô tô đầu kéo biển số 81H – 004.76, kéo theo Sơ mi rơ mooc biển số 81H – 008.76 cho chủ sở hữu hợp pháp.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cục đá bằng bê tông xi măng (kích thước 07cm x 07cm x 04cm); 01 cục đá bằng bê tông xi măng (kích thước 10cm x 10cm x 12cm), do không còn giá trị sử dụng.

. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử xét thấy cần được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Phan Minh Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Minh Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Minh Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ Luật hình sự; các Điều 584, Điều 585 và Điều 586 của Bộ Luật dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Phan Minh Q và đại diện theo ủy quyền của người bị hại. Bị cáo Phan Minh Q phải bồi thường cho bị hại số tiền 5.745.600 đồng (Năm triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn sáu trăm đồng).

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại 01 ô tô đầu kéo biển số 81H – 004.76, kéo theo Sơ mi rơ mooc biển số 81H – 008.76 cho chủ sở hữu hợp pháp.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cục đá bằng bê tông xi măng (kích thước 07cm x 07cm x 04cm); 01 cục đá bằng bê tông xi măng (kích thước 10cm x 10cm x 12cm), do không còn giá trị sử dụng.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phan Minh Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Cỡ chữ