vanban.org

Bản án 41/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Thái K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu huỷ 02 (Hai) thanh gỗ sơn màu xanh và màu xám; Mảnh kính cửa Nhà số 103; Mảnh thủy tinh bị vỡ; Mảnh kính bị vỡ. (Vật chứng hiện Phòng Thi hành án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thái K - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thái K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 115 Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST
Ngày: 11/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Hoàng Diễm (Giáo viên)

2. Ông Huỳnh Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Ngà - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 18/8/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 29/8/2025 đối với bị cáo:

Ngô Thái K, sinh năm 2004 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Số F, khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre); căn cước công dân số: 083204011433; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thái B và bà Nguyễn Ngọc Á. bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: không;

Tiền sự: tại Quyết định số 122/QĐ-XPHC ngày 28/4/2021 của Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường S, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt đối với Ngô Thái K số tiền 1.750.000 đồng về hành vi huỷ hoại tài sản, chưa nộp phạt.

Nhân thân:

- Tại Bản án số 53/2022/HS-ST ngày 03/6/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bến Tre (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long) tuyên xử Ngô Thái K 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tại Bản án số 106/2022/HS-ST ngày 19/12/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bến Tre (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long) tuyên xử Ngô Thái K 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 53/2022/HSST ngày 03/6/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bến Tre (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long) để buộc bị cáo K chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 02 năm 07 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2024.

- Tại Quyết định số 290/QĐ-XPHC ngày 13/12/2022 của Công an thành phố B, tỉnh Bến Tre xử phạt đối với Ngô Thái K số tiền 3.250.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng có mang theo hung khí.

Bị cáo bị C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/6/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Lê Khắc V, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số A, khu phố C, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

2. Nguyễn Văn C1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Số A, khu phố C, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Sơn V1, sinh năm 1995; nơi cư trú: số A, khu phố B, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

2. Trần Kim T, sinh năm1993; nơi cư trú: Số B, khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

3. Phạm Văn A, sinh năm 1999; nơi cư trú: số E, khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

4. Lê Hữu N, sinh năm 1996; nơi cư trú: số B, khu phố B, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

5. Bùi Vũ H, sinh năm 1996; nơi cư trú: số C, khu phố B, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

6. Võ Hoài H1, sinh năm 1994; nơi cư trú: nơi cư trú: số A, khu phố M, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt:

Ngô Thái K là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi huỷ hoại tài sản của người khác chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm: khoảng 22 giờ 05 phút ngày 22/01/2022, Ngô Thái K và Trần Kim T mang theo con dao tự chế tìm Nam thanh niên tên D (chưa xác định họ tên, địa chỉ đầy đủ) để giải quyết mâu thuẫn. Khi Ngô Thái K và Trần Kim T đi ngang Quán Ố ở Khu phố B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là Khu phố B, phường B, tỉnh Vĩnh Long) thì nhóm Bùi Vũ H, Phạm Văn A, Lê Hữu N, Võ Hoài H1 và Nguyễn Sơn V1 thấy K và T mang theo hung khí nên cả nhóm của H liền chạy theo sau K và T để xem có việc gì xảy ra. Khi đến Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là Khu phố C, phường B, tỉnh Vĩnh Long), D thấy Ngô Thái K và Trần Kim T mang theo hung khí nên D chạy trốn vào nhà của anh Lê Khắc V ở Số A, Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là Khu phố C, phường B, tỉnh Vĩnh Long) và D đóng cửa lại. Anh V nghe tiếng ồn ở phía trước sân nhà nên anh V từ nhà sau đi lên nhà trước để mở cánh cửa ra thì bất ngờ anh V bị Phạm Văn A dùng dao chém vào bàn tay trái gây thương tích. Sau khi chém anh V bị thương, Ngô Thái K và Trần Kim T dùng dao chém vào cửa kính nhà anh V làm cửa kính bị bể. Chưa dừng lại, Ngô Thái K và Trần Kim T sang nhà ông Nguyễn Văn C1 ở Số A, Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường B, tỉnh Vĩnh Long) dùng dao chém vào cánh cửa làm bằng nhôm làm cánh cửa bị biến dạng và bể kính rồi K và T tẩu thoát.

Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng: 02 (Hai) thanh gỗ sơn màu xanh và màu xám; Mảnh kính bị vỡ của Nhà số 103C và Nhà số A; Mảnh thủy tinh bị vỡ của Nhà số 103C.

Ngoài các vật chứng nêu trên Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 (Một) đĩa DVD lưu trữ 01 tập tin đoạn file camera do ông Nguyễn Văn C1 là bị hại, địa chỉ: A, Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là Khu phố C, phường B, tỉnh Vĩnh Long) giao nộp.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích Số 96-322/TgT ngày 07/4/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh B kết luận đối với Lê Khắc V:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương chẻ dọc từ lòng bàn tay trái đến kẻ ngón 1, 2 đến mặt sau bàn tay trái KT#10x3 cm, bờ sắc gọn, đứt gân gấp ngón 1, lộ cơ dạng khép ngón 1, cơ mô cái đứt hoàn toàn, tụ nhiều máu cục; Phẫu thuật: cắt lọc, khâu phục hồi gân gấp ngón 1, cơ dạng khép ngón 1, cơ mô cái; Hiện: vết thương lành sẹo, kích thước: 19cm x 0,2cm; vận động dạng, khép ngón 1 (ngón cái) còn hạn chế ít.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là: 02% căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y để xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Cơ chế hình thành thương tích: do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Kết luận định giá tài sản Số 571/KL-HĐĐG ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 02 (Hai) tấm kiếng trà đậm, kích thước 50cm x 115cm, loại 05li. Trị giá tài sản ngày 22/01/2022 là 600.000 đồng; 02 (Hai) khung bông nhôm hộp kích thước 12cm x 25cm, ống luồng 16cm, kích thước 50cm x 115cm, nhãn hiệu Trung K1. Trị giá tài sản ngày 22/01/2022 là 750.000 đồng; 02 (Hai) tấm kiếng hiệu Hải Đường, loại 05 li, kích thước 60cm x 120cm. Trị giá tài sản ngày 22/01/2022 là 300.000 đồng; 07 (Bảy) mét ron dán. Trị giá tài sản ngày 22/01/2022 là 70.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.720.000 đồng.

Tại Kết luận giám định Số 542/KL-KTHS ngày 16/9/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận về đối tượng giám định:

Qua giám định tập tin video gửi giám định (ký hiệu A): không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa. Tuy nhiên, nội dung diễn biến trong tập tin video gửi giám định (ký hiệu A) được ghi lại từ màn hình hiển thị hình ảnh của tập tin video khác đang phát nên không đủ cơ sở kết luận nội dung hình ảnh của tập tin video đang phát đó có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không.

Tại thời lượng từ 00 phút 30 giây đến 01 phút 00 giây của tập tin video gửi giám định (ký hiệu A): có 06 (Sáu) hình ảnh người xuất hiện trong khung hình, đã trích xuất hình ảnh và mô tả đặc điểm nhận dạng, động tác của hình ảnh người xuất hiện trong khung hình, chi tiết được mô tả trong 01 (Một) bản ảnh kèm theo (Bút lục 402 - 403).

Kèm theo kết luận giám định: 01 (Một) bản ảnh giám định gồm 08 (T1) trang giấy A4 (Bút lục 389 - 396).

H2 lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V) toàn bộ đối tượng giám định nêu tại mục II.1.

Bị hại Lê Khắc V yêu cầu Ngô Thái K và những người có liên quan bồi thường tài sản bị thiệt hại số tiền 25.000.000 đồng. Ngô Thái K đã bồi thường cho Lê Khắc V số tiền 25.000.000 đồng. Bị hại V có đơn yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị hại Nguyễn Văn C1 yêu cầu Ngô Thái K và những người có liên quan bồi thường số tiền 2.540.000 đồng do tài sản bị thiệt hại. Ngô Thái K đã bồi thường cho bị hại C1 số tiền 2.540.000 đồng. Bị hại C1 có đơn yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Ngô Thái K không yêu cầu Trần Kim T, Lê Hữu N, Phạm Văn A, Bùi Vũ H, Nguyễn Sơn V1 và Võ Hoài H1 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền mà K đã bồi thường cho bị hại V và ông C1.

Đối với 01 đĩa DVD lưu trữ 01 tập tin đoạn file camera do ông Nguyễn Văn C1 giao nộp ghi lại diễn biến K làm hư hỏng tài sản của bị hại là vật chứng của vụ án nên lưu hồ sơ vụ án.

Đối với 02 (Hai) thanh gỗ sơn màu xanh và màu xám; Mảnh kính cửa Nhà số 103; Mảnh thủy tinh bị vỡ; Mảnh kính bị vỡ là vật chứng liên quan đến vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ để xem xét xử lý theo luật định.

Quá trình điều tra, Ngô Thái K khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai bị hại, lời khai nhân chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSKV5 ngày 15/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự: Điều 115; Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp Người chưa thành niên xử phạt bị cáo từ 3 đến 6 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị phạt không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận:

Bị hại Lê Khắc V yêu cầu Ngô Thái K và những người có liên quan bồi thường tài sản bị thiệt hại số tiền 25.000.000 đồng. Ngô Thái K đồng ý và đã bồi thường cho Lê Khắc V số tiền 25.000.000 đồng.

Bị hại Nguyễn Văn C1 yêu cầu Ngô Thái K và những người có liên quan bồi thường số tiền 2.540.000 đồng do tài sản bị thiệt hại. Ngô Thái K đồng ý và đã bồi thường cho bị hại C1 số tiền 2.540.000 đồng.

Ngô Thái K không yêu cầu Trần Kim T, Lê Hữu N, Phạm Văn A, Bùi Vũ H, Nguyễn Sơn V1 và Võ Hoài H1 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền mà K đã bồi thường cho bị hại V và ông C1.

Về xử lý vật chứng:

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ 01 tập tin đoạn file camera do ông Nguyễn Văn C1 giao nộp ghi lại diễn biến K làm hư hỏng tài sản của bị hại.

Tịch thu tiêu huỷ 02 (Hai) thanh gỗ sơn màu xanh và màu xám; Mảnh kính cửa Nhà số 103; Mảnh thủy tinh bị vỡ; Mảnh kính bị vỡ.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: khoảng 22 giờ 05 phút ngày 22/01/2022, Ngô Thái K đã có hành vi dùng con dao chém vào cửa kính Nhà số 103C của Lê Khắc V làm cửa kính bị bể với giá trị thiệt hại là 370.000 đồng và chém vào cánh cửa làm bằng nhôm Nhà số 179C2 của Nguyễn Văn C1 làm cánh cửa bị biến dạng và bể kính với giá trị thiệt hại là 1.350.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.720.000 đồng xảy ra tại Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường B, tỉnh Vĩnh Long).

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng bị cáo đã một mình cố ý làm hư hỏng tài sản của các bị hại, giá trị tài sản bị hư hỏng là 1.720.000 đồng. Bị cáo có đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” chưa được xóa. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân Khu vực 5-Vĩnh Long truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; “Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các Điều 115, Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên để quyết định hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ 01 tập tin đoạn file camera do ông Nguyễn Văn C1 giao nộp ghi lại diễn biến K làm hư hỏng tài sản của bị hại.

Tịch thu tiêu huỷ 02 (Hai) thanh gỗ sơn màu xanh và màu xám; Mảnh kính cửa Nhà số 103; Mảnh thủy tinh bị vỡ; Mảnh kính bị vỡ.

Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận:

Bị hại Lê Khắc V yêu cầu Ngô Thái K và những người có liên quan bồi thường tài sản bị thiệt hại số tiền 25.000.000 đồng. Ngô Thái K đã bồi thường cho Lê Khắc V số tiền 25.000.000 đồng.

Bị hại Nguyễn Văn C1 yêu cầu Ngô Thái K và những người có liên quan bồi thường số tiền 2.540.000 đồng do tài sản bị thiệt hại. Ngô Thái K đã bồi thường cho bị hại C1 số tiền 2.540.000 đồng.

Ngô Thái K không yêu cầu Trần Kim T, Lê Hữu N, Phạm Văn A, Bùi Vũ H, Nguyễn Sơn V1 và Võ Hoài H1 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền mà K đã bồi thường cho bị hại V và bị hại C1.

Hành vi gây thương tích cho ông C1 với tỉ lệ thương tích là 02% của bị cáo và các đối tượng khác, ông C1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự nhưng sau đó đã rút đơn yêu cầu nên Cơ quan có thẩm quyền đình chỉ giải quyết là phù hợp nên ghi nhận.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo bị kết án nên phải chịu theo quy định của Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngô Thái K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 115; Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Ngô Thái K 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu huỷ 02 (Hai) thanh gỗ sơn màu xanh và màu xám; Mảnh kính cửa Nhà số 103; Mảnh thủy tinh bị vỡ; Mảnh kính bị vỡ. (Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5-Vĩnh Long quản lý).

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Thái K nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ