- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THỊ THANH B "TRỘM CẮP TÀI SẢN" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày: 31-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Bích Loan
2. Bà Nguyễn Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Tấn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Thảo Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh B, tên gọi khác: Gái, sinh ngày 20/10/1978 tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: 136K, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành M, sinh năm 1938 (đã chết) và bà Lê Thị S, sinh năm 1944; có chồng tên Trần Văn S1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12-5-2022, bị Tòa án nhân dân quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án hình sự sơ thẩm số 54/2022/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/10/2022, thi hành xong về án phí (đã xóa án tích); ngày 20/8/2016, bị cáo trộm cắp tài sản và bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đồng theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17199/QĐ-XPHC ngày 07/12/2016 của Công an xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo chưa nộp phạt nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH V (Long An)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ren Yong C – Tổng giám đốc
Địa chỉ: KCN T, Tỉnh lộ 830, ấp C L, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm 2002
Địa chỉ liên hệ: Ấp C L, xã T, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/4/2025, Nguyễn Thị Thanh B đi bộ đến cầu N thuộc phường E, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh), tại đây B ngồi chờ Ba và B1 (chưa rõ lai lịch) đến đón B đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Trước đó, B có gặp D (chưa rõ lai lịch, D là vợ của B2), B cho D biết đang nợ tiền nên xin theo Ba và B1 đi trộm cắp tài sản lấy tiền trả nợ nên D cho B biết thời gian, địa điểm Ba và B1 sẽ đến đón B. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, B1 một mình điều khiển vỏ lãi composite đến đón B tại cầu N, B ngồi giữa vỏ lãi, đi được một đoạn khoảng 10m thì Ba một mình chạy vỏ lãi composite theo phía sau, cùng đi trên sông V về hướng B để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, B2 và B1 tắt máy, sau đó thả xuôi vỏ lãi theo con nước trên sông V Đông khoảng 10m đến phía sau Công ty TNHH V (Long An) trong khu công nghiệp T (sau đây gọi là Công ty V) thuộc xã L, huyện B (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh). Ba và B1 cột vỏ lãi cặp sông V Đông rồi đi lên bờ, lén lút đột nhập từ phía sau vào bên trong kho vật tư của Công ty V để lấy trộm tài sản, B ở lại giữ 02 vỏ lãi. Khoảng 30 phút sau, Ba hay B1 (do đêm tối B không xác định được) đem dây điện vừa trộm được ra cho B bỏ trên mũi vỏ lãi, B lấy dây điện vừa trộm được đem xuống vỏ lãi của B1. Khoảng 20 phút sau, Ba hay B1 tiếp tục lấy dây điện vừa trộm ra cho B và bỏ trên vỏ lãi của B1, kêu B sắp xếp dây điện vừa trộm được. Sau đó, người này quay lại Công ty V tiếp tục lấy trộm, dây điện vừa trộm được đem ra bỏ tại bờ sông V, phía trước mũi vỏ lãi, B đang đi lên bờ lấy những dây điện vừa trộm đem xuống vỏ lãi thì Công an xã L (nay là xã T) tuần tra phát hiện, bắt giữ B cùng tang vật. Sau khi bị phát hiện, B2 và B1 đã bỏ trốn. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/4/2025, Công ty V phát hiện bị mất tài sản là dây điện tại kho vật tư của công ty nên trình báo đến Công an xã T, B thừa nhận cùng với B2 và B1 trộm cắp tài sản của Công ty V.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 cuộn dây điện màu đen có kích thước 5mm x 1,5mm dài 100m; 01 cuộn dây điện màu trắng có kích thước 3mm x 2,5mm dài 219m; dây điện có kích thước 4mm x 1,5mm dài 64m; dây điện có kích thước 12mm x 1,5mm dài 13m; dây diện có kích thước 3mm x 4mm dài 10m và 3mm x 16mm dài 6m; dây điện đơn kích thước 10mm dài 29m; dây điện 03 lõi, 50mm + 1mm x 25 mm dài 17m; dây điện trần có kích thước 35mm dài 10m; dây điện gắn máy hàn kích thước 50mm dài 12m (sau đây gọi là dây điện); 02 vỏ lãi composite; 02 động cơ máy hoạt động bằng dầu, 01 bình xịt hơi cay và 01 kiềm cộng lực cán màu đỏ dài 0,6m.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 08/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh), kết luận tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 17.593.161 đồng.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKSKV4 ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh B thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại đối với kết luận định giá. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s, điểm h khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị: Xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng để tạo ra thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đối với Ba và B1 (chưa rõ lai lịch) cùng với Nguyễn Thị Thanh B trộm cắp tài sản, qua điều tra B cung cấp thông tin đối với B2 và B1 không đủ cơ sở xác minh, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Đối với người tên D (chưa rõ lai lịch) là vợ của B2, D cho B biết thời gian và địa điểm để Ba và B1 đến đón B đi trộm cắp tài sản. Qua điều tra, B cung cấp thông tin đối với người tên D không đủ cơ sở xác minh, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- 01 cuộn dây điện màu đen có kích thước 5mm x 1,5mm dài 100m; 01 cuộn dây điện màu trắng có kích thước 3mm x 2,5mm dài 219m; dây điện có kích thước 4mm x 1,5mm dài 64m; dây điện có kích thước 12mm x 1,5mm dài 13m; dây diện có kích thước 3mm x 4mm dài 10m và 3mm x 16mm dài 6m; dây điện đơn kích thước 10mm dài 29m; dây điện 03 lõi, 50mm + 1mm x 25 mm dài 17m; dây điện trần có kích thước 35mm dài 10m; dây điện gắn máy hàn kích thước 50mm dài 12m, các dây điện trên thuộc sở hữu của Công ty V, hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty là phù hợp.
- 02 vỏ lãi composite và 02 động cơ máy hoạt động bằng dầu, Nguyễn Thị Thanh B khai nhận 02 vỏ lãi và 02 động cơ máy thuộc sở hữu của Ba và B1 dùng làm phương tiện trộm cắp tài sản. Qua xác minh, ngày 06/8/2024 bà Mã Ngọc H chủ đại lý T xác định có bán 01 vỏ lãi composite cho người tên S2 giao tại cầu N nhưng không có lưu thông tin của người mua, đề nghị giao Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, điều tra xử lý sau là phù hợp.
- 01 bình xịt hơi cay, B khai B1 đưa cho B để doạ khi gặp người lạ; 01 kiểm cộng lực cán màu đỏ dài 0,6m, Công ty V xác định không phải tài sản của Công ty, B không rõ có phải của B2, B1 hay không, đề nghị giao Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, điều tra xử lý sau là phù hợp.
(Vật chứng hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đang tạm giữ).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai và bị cáo ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của họ nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản ghi lời khai của bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó, đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ ngày 08/4/2025, B1 (chưa rõ lai lịch) điều khiển vỏ lãi composite chở theo Nguyễn Thị Thanh B ngồi giữa, Ba (chưa rõ lai lịch) một mình điều khiển vỏ lãi composite chạy phía sau, trên sông V đến Công ty TNHH V (Long An) tại xã T, tỉnh Tây Ninh, để trộm cắp tài sản. Ba và B1 đi từ phía sau, đột nhập vào bên trong kho vật tư của Công ty V, lén lút lấy trộm dây điện với tổng giá trị là 17.593.161 đồng. Khi B đang đi lên bờ lấy dây điện đem xuống vỏ lãi thì Công an xã T phát hiện, bắt giữ B cùng tang vật, B2 và B1 bỏ trốn. Do đó, có cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì tham lam, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sự sơ hở bất cẩn của người khác để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo đã từng bị kết án nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s, điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có trình độ học vấn thấp, hiện tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại chủ sở hữu nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có khả năng để tạo ra thu nhập và xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- 01 cuộn dây điện màu đen có kích thước 5mm x 1,5mm dài 100m; 01 cuộn dây điện màu trắng có kích thước 3mm x 2,5mm dài 219m; dây điện có kích thước 4mm x 1,5mm dài 64m; dây điện có kích thước 12mm x 1,5mm dài 13m; dây diện có kích thước 3mm x 4mm dài 10m và 3mm x 16mm dài 6m; dây điện đơn kích thước 10mm dài 29m; dây điện 03 lõi, 50mm + 1mm x 25 mm dài 17m; dây điện trần có kích thước 35mm dài 10m; dây điện gắn máy hàn kích thước 50mm dài 12m, các dây điện trên thuộc sở hữu của Công ty V, hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty là phù hợp nên không xét đến.
- 02 vỏ lãi composite và 02 động cơ máy hoạt động bằng dầu, Nguyễn Thị Thanh B khai nhận 02 vỏ lãi và 02 động cơ máy thuộc sở hữu của Ba và B1 dùng làm phương tiện trộm cắp tài sản. Qua xác minh, ngày 06/8/2024 bà Mã Ngọc H chủ đại lý T xác định có bán 01 vỏ lãi composite cho người tên S2 giao tại cầu N nhưng không có lưu thông tin của người mua, giao Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
- 01 bình xịt hơi cay, B khai B1 đưa cho B để doạ khi gặp người lạ; 01 kiềm cộng lực cán màu đỏ dài 0,6m, Công ty V xác định không phải tài sản của Công ty, B không rõ có phải của Ba, B1 hay không, giao Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
(Vật chứng hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đang tạm giữ).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty V đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Ba và B1 (chưa rõ lai lịch) cùng với Nguyễn Thị Thanh B trộm cắp tài sản, qua điều tra B cung cấp thông tin đối với B2 và B1 không đủ cơ sở xác minh, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Đối với người tên D (chưa rõ lai lịch) là vợ của B2, D cho B biết thời gian và địa điểm để Ba và B1 đến đón B đi trộm cắp tài sản. Qua điều tra, B cung cấp thông tin đối với người tên D không đủ cơ sở xác minh, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiếp tục tạm giữ 02 vỏ lãi composite, 02 động cơ máy hoạt động bằng dầu, 01 bình xịt hơi cay, 01 kiềm cộng lực cán màu đỏ dài 0,6m để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau theo quy định của pháp luật.
(Vật chứng hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đang tạm giữ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 4 – Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh; - Phòng THADS khu vực 4 – Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo, bị hại; - UBND xã Phú Túc, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu hồ sơ; án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Chí Lin Trần Thị Đổi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thúy Hồng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thúy Hồng |