vanban.org

Bản án 41/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Khánh N 12 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/11/2024; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Khánh Nam - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41 /2025/ HS-ST
Ngày 14 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phương Ngọc Báu và ông Hoàng Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Noọng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án Hình sự thụ lý số 44/2025/TLST - HS ngày 22 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Khánh N; Giới tính: nam; Tên gọi khác: không có; Sinh ngày 28 tháng 02 năm 2002, tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: xóm N - Bản P, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1974 và bà Ngôn Thị V, sinh năm 1975 cùng làm nghề trồng trọt và trú tại xóm N - Bản P, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Bị cáo là con út trong gia đình có hai anh em; Vợ: Lương Thị Q, sinh năm 2003; nghề nghiệp: trồng trọt; trú tại xóm N - Bản P, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Con: có 01 con sinh năm 2023, hiện đang ở với mẹ; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 11/11/2024. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 ngày 11/11/2024, tại đoạn đường gần Chi cục Thuế huyện T thuộc tổ dân phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Tổ công tác Công an thị trấn T phối hợp với tổ công tác Công an xã P phát hiện bắt quả tang Hoàng Khánh N, sinh năm 2002, trú tại xóm N - Bản P, xã P, huyện T đang tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tạm giữ trong túi áo khoác màu đen bên phải N đang mặc 01 gói giấy trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màn hình có nhiều vết nứt vỡ. N khai chất bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine mua về sử dụng cho bản thân.

Hồi 17 giờ 10 ngày 11/11/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cân số chất bột màu trắng tạm giữ của Hoàng Khánh N có khối lượng 0,14 gam và trích lấy mẫu gửi trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 617/KL-KTHS ngày 20/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Khánh N khai bản thân sử dụng ma tuý từ năm 2023, loại ma tuý sử dụng là Heroine. Sáng ngày 11/11/2024, N bắt xe buýt đến xóm Đ - Bản R, xã Đ, huyện T mua 01 gói ma tuý giá 200.000 đồng với một người tên S (không rõ họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể). N cất giấu gói ma tuý vào túi áo và bắt xe buýt về đến gần Chi cục Thuế huyện T thì xuống xe thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Nguồn gốc số tiền để mua ma tuý do N trộm cắp tài sản mà có.

Vật chứng của vụ án được Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để đảm bảo việc xét xử vụ án.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSTK ngày 21 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Hoàng Khánh N ra trước Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Khánh N thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Khánh N. Xử phạt bị cáo Hoàng Khánh N từ 12 (mười hai) tháng tù - 15 (mười lăm) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư được niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ Hoàng Khánh N - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra tại tổ dân phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng ngày 11/11/2024”; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màn hình có nhiều vết nứt vỡ, vì đã hỏng không còn giá trị sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo N. Cụ thể: Hồi 13 giờ 30 ngày 11/11/2024, tại đoạn đường gần Chi cục Thuế huyện T thuộc tổ dân phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác Công an thị trấn T phối hợp với tổ công tác Công an xã P phát hiện, bắt quả tang Hoàng Khánh N đang tàng trữ trái phép 0,14 gam ma tuý, loại Heroine để sử dụng cho bản thân.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy; hành vi phạm tội của bị cáo còn thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, khối lượng ma túy thu giữ được của bị cáo là 0,14 gam (không phẩy mười bốn gam) là tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Hoàng Khánh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy nên được xem là có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các nhận định khác:

Về nguồn gốc số Heroine thu giữ, Hoàng Khánh N khai mua với một người tên S (không rõ họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể). Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để mở rộng điều tra vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc tiền mua ma túy bị cáo khai do trộm cắp mà có, nhưng về hành vi trộm cắp tài sản đã được Cơ quan điều tra tách ra trong giai đoạn điều tra để xem xét giải quyết bằng vụ án khác. Việc Cơ quan điều tra tách hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo ra để giải quyết bằng vụ án khác là đúng với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nguồn thu nhập nhưng không ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư được niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ Hoàng Khánh N - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra tại Tổ dân phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng ngày 11/11/2024”; 01 (môt) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, không lắp sim, số Imel 1:860739037437698, số Imel 2: 860739037437680. Vì các vật chứng trên là tang vật của vụ án và đã hỏng không còn giá trị sử dụng.

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/4/2025.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Khánh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hoàng Khánh N 12 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/11/2024;

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Xử tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư được niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ Hoàng Khánh N - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra tại Tổ dân phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng ngày 11/11/2024”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, không lắp sim, số Imel 1:860739037437698, số Imel 2: 860739037437680. Vì các vật chứng trên là tang vật của vụ án và đã hỏng không còn giá trị sử dụng.

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/4/2025

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Khánh N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ