vanban.org

Bản án 41/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Lâm Thị Kim C với bị đơn Ông Trần Thanh P:

Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Kim C được ly hôn với Ông Trần Thanh P (Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2013 ngày 6-3-2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện X, tỉnh Sóc Trăng {nay là Ủy ban nhân dân phường X, thành phố Cần Thơ}). Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Thanh T (sinh ngày 6-6-2012) và cháu T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Lâm Thị Kim C với bị đơn Ông Trần Thanh P:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28-8-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Trang

Bà Đào Đắc Cẩm Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trung An - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 28-8-2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số thụ lý số: 122/2025/TLST-HNGĐ ngày 5 tháng 6 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31-7-2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Kim C, sinh ngày 01-01-1992; địa chỉ nơi cư trú: Số nhà 218 Cầu Cái Xe, ấp V, phường X, thành phố Cần Thơ (cũ là số nhà 218 Cầu Cái Xe, ấp X, thị trấn M, huyện X, tỉnh Sóc Trăng). (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Thanh P, sinh ngày 1985; địa chỉ nơi cư trú: Số nhà 218/40 ấp L, phường X, thành phố Cần Thơ (cũ là số nhà 218/40 ấp L, thị trấn M, huyện X, tỉnh Sóc Trăng). (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 4-6-2025, đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt đề ngày 31-7-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bà Lâm Thị Kim C trình bày cho rằng Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện X, tỉnh Sóc Trăng (số 34/2013 ngày 6-3-2012). Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2022 vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ tháng 4/2025 đến nay Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P đã sống ly thân. Do đó, Bà Lâm Thị Kim C yêu cầu xin ly hôn với Ông Trần Thanh P. Về con chung giữa Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P có hai con chung tên Trần Thanh T (sinh ngày 6-6-2012) và Trần Thanh T2 (sinh ngày 13-5-2021) đang sống cùng Bà Lâm Thị Kim C; khi ly hôn Bà Lâm Thị Kim C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu Ông Trần Thanh P cấp dưỡng cho con chung. Tài sản chung, nợ chung giữa Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Đồng thời, Bà Lâm Thị Kim C yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt bà theo quy định pháp luật.

Bị đơn Ông Trần Thanh P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa, Bà Lâm Thị Kim C vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Ông Trần Thanh P vắng mặt không có lý do; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân cho Bà Lâm Thị Kim C được ly hôn với Ông Trần Thanh P; về con chung, tiếp tục giao cháu Trần Thanh T (sinh ngày 6-6-2012) và cháu Trần Thanh T2 (sinh ngày 13-5-2021) cho Bà Lâm Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi; dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho Ông Trần Thanh P không ai được quyền ngăn cản; về cấp dưỡng cho con chung, tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét; tuyên án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của Bà Lâm Thị Kim C là vụ án hôn nhân và gia đình về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bị đơn Ông Trần Thanh P cư trú Số nhà 218/40 ấp L, phường X, thành phố Cần Thơ (cũ là số nhà 218/40 ấp L, thị trấn M, huyện X, tỉnh Sóc Trăng) nên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ (kế thừa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng) thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tại phiên tòa, Bà Lâm Thị Kim C vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, Ông Trần Thanh P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P kết hôn đã được Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện X, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 34/2013 ngày 6-3-2012 là hôn nhân hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo Bà Lâm Thị Kim C trình bày từ năm 2022, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để đương sự gặp gỡ hòa giải các mâu thuẫn, đoàn tụ nhưng Bà Lâm Thị Kim C vẫn kiên quyết xin ly hôn; Ông Trần Thanh P nhận văn bản tố tụng thông báo về yêu cầu khởi kiện của Bà Lâm Thị Kim C đối với ông nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; qua xác minh địa phương ấp L, phường X, thành phố Cần Thơ cung cấp thông tin nguyên nhân mâu thuẫn ly hôn giữa Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P do cãi vã gia đình, bất đồng quan điểm sống và Bà Lâm Thị Kim C có trình báo đến địa phương. Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình… theo quy định tại Điều 17 - Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và đã sống ly thân từ tháng 4/2025 đến nay, mỗi người tự sống cuộc sống riêng, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình… là vi phạm nghiệm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Xét Bà Lâm Thị Kim C yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Lâm Thị Kim C trình bày giữa Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P có hai con chung tên Trần Thanh T (sinh ngày 6-6-2012) và Trần Thanh T2 (sinh ngày 13-5-2021) đang sống cùng Bà Lâm Thị Kim C; khi ly hôn Bà Lâm Thị Kim C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu Ông Trần Thanh P cấp dưỡng cho con chung; Ông Trần Thanh P không có ý kiến gì về vấn đề con chung gửi đến Toà án; qua nguyện vọng của cháu Trần Thanh T muốn tiếp tục sống cùng mẹ ruột là Bà Lâm Thị Kim C; qua xác minh địa phương ấp L, phường X, thành phố Cần Thơ cung cấp thông tin nguyên nhân mâu thuẫn tranh chấp nuôi con giữa Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P do cãi vã gia đình, bất đồng quan điểm sống và Bà Lâm Thị Kim C có trình báo đến địa phương. Xét thấy, để tránh xáo trộn cuộc sống hàng ngày của cháu Trần Thanh T, cháu Trần Thanh T2, Bà Lâm Thị Kim C và Ông Trần Thanh P, cần tiếp tục giao cháu Trần Thanh T và cháu Trần Thanh T2 cho Bà Lâm Thị Kim C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là đảm bảo tốt nhất sự phát triển của các cháu trong thời điểm hiện tại, phù hợp với điều kiện, nguyện vọng của Bà Lâm Thị Kim C, cháu Trần Thanh T và đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông Trần Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Lâm Thị Kim C không yêu cầu về cấp dưỡng cho con chung; Ông Trần Thanh P không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị Kim C trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông Trần Thanh P không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Bà Lâm Thị Kim C phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 14 Điều 3, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Lâm Thị Kim C với bị đơn Ông Trần Thanh P:

- Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Kim C được ly hôn với Ông Trần Thanh P (Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2013 ngày 6-3-2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện X, tỉnh Sóc Trăng {nay là Ủy ban nhân dân phường X, thành phố Cần Thơ}).

- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Thanh T (sinh ngày 6-6-2012) và cháu Trần Thanh T2 (sinh ngày 13-5-2021) cho Bà Lâm Thị Kim C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đã thành niên; Ông Trần Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng cho con chung: Bà Lâm Thị Kim C không yêu cầu; Ông Trần Thanh P không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị Kim C không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông Trần Thanh P không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Bà Lâm Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001744 ngày 4-6-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (nay là Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ {khu vực 8}).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Cỡ chữ