- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tr xin ly hôn Nguyễn Như B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Như B.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày 03 - 12 - 2025. V/v “Ly hôn, con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Luân.
Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Xóm 4, xã B, tỉnh Nghệ An; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Như B, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Tổ dân phố số 5, phường K, tỉnh Ninh Bình; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 10 năm 2025 và các lời khai tại Tòa án, chị Nguyễn Thị Tr là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Như B kết hôn hoàn toàn tự nguyện, trước khi cưới có được tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 01 năm 2018 tại Uỷ ban nhân dân xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Kim Thanh, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được 3 năm thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B chơi bời, lô đề, không quan tâm đến gia đình. Chị và gia đình đã khuyên can nhưng anh B không nghe dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng hay xảy ra đánh, cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình, đoàn thể địa phương hòa giải nhưng không thành. Từ tháng 9 năm 2024, chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở xóm 4, xã B, tỉnh Nghệ An sinh sống, từ đó đến nay, vợ chồng chị sống ly thân, chấm dứt quan hệ vợ chồng và không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống, tình cảm của nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh B để chị ổn định cuộc sống.
Tại bản tự khai, anh Nguyễn Như B trình bày: Về thời gian, điều kiện, kết hôn, thời gian sống ly thân của vợ chồng anh đúng như chị Tr trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Tr có quan hệ với người đàn ông khác, bỏ mặc chồng con. Nay anh xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị Tr, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hòa giải nên chị Tr xin ly hôn, anh nhất trí. Do công việc bận, anh xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án.
Về con chung: Chị Tr, anh B cùng trình bày, anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Mai L, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2018 và cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2022. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả hai con ở với anh B. Khi ly hôn, chị Tr, anh B đều có nguyện vọng giao cháu L, cháu T cho anh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi các đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh B.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Tại phiên tòa, đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy và không thay đổi bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. 1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Như B. 2. Con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Mai L, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2018 và cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2022 cho anh Nguyễn Như B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung. 3. Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng quan điểm đề nghị về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tr yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Như B là bị đơn; địa chỉ: Tổ dân phố số 5, phường K, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân khu vực 5 - Ninh Bình. Anh Nguyễn Như B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đây là trường hợp đương sự vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Như B kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 01 năm 2018 tại Uỷ ban nhân dân xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Kim Thanh, tỉnh Ninh Bình). Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chị Tr, anh B chung sống hòa thuận, hạnh phúc được 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có sự tin tưởng lẫn nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, không thể hàn gắn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay, không quan tâm gì đến cuộc sống, tình cảm của nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng chị Tr, anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Tr xin ly hôn, anh B nhất trí nên công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Như B là phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng chị Tr, anh B có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Mai L, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2018 và cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2022. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả hai con đều ở với anh B, được anh B nuôi dưỡng đảm bảo tốt về mọi mặt. Khi ly hôn, chị Tr, anh B đều có nguyện vọng giao cháu L, cháu T cho anh B trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các đương sự được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Con riêng: Không có.
Về tài sản chung, riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Như B thuận tình ly hôn nên mỗi bên phải chịu 75.000đồng án phí ly hôn. Tại phiên tòa, chị Tr xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm (Chị Tr xin chịu thay cả phần án phí ly hôn sơ thẩm của anh B). Xét thấy, sự tự nguyện của đương sự là phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 55; Điều 57; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Như B.
2. Con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Mai L, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2018 và cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2022 cho anh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu L, cháu T đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị Tr không phải cấp dưỡng cho con theo sự tự nguyện của anh Bảo.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị Tr phải chịu 150.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Chị Tr xin chịu thay cho cả phần án phí ly hôn sơ thẩm của anh B), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị Tr đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí 0001240 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Hoàn trả lại cho chị Tr 150.000đồng.
4. Quyền kháng cáo: Chị Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - UBND phường Kim Thanh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |