vanban.org

Bản án 41/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn với anh Trần Văn T2.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 19 tháng 7 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang). Về con chung: Giao cháu Trần Thị Huyền T3, sinh ngày 25/4/2010 cho chị Nguyễn Thị T1 là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Trần Văn T2 không phải cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn với anh Trần Văn T2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25/6/2025
Về việc: “Ly hôn, giao nuôi con chung
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Long và ông Hoàng Văn Hùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Thế Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến T - Kiểm sát viên.

Ngày 25/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ, ngày 21/02/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T2 kết hôn với nhau vào năm 2011, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 19/7/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống, làm việc tại thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, tháng 01 năm 2025 chị Nguyễn Thị T1 có đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T2.

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T1 trình bày: Nguyên nhân mâu thẫn là do trong cuộc sống hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, suy nghĩ không còn hiểu nhau, anh T2 ham chơi, nghiện ma tuý, không chịu khó làm kinh tế lo toan cho cuộc sống gia đình nên dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã, xích mích... mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, đời sống chung không có hạnh phúc. Đến giữa năm 2016 chị và anh T2 đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị T1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Toà án nhân dân huyên Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T2.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T1 xác định có 01 người con chung là Trần Thị Huyền T3, sinh ngày 25/4/2010. Quá trình giải quyết chị T1 có quan điểm nhận là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T3 chị không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con chung.

Lời khai của cháu Trần Thị Huyền T3 có trong hồ sơ thể hiện nguyện vọng của cháu được ở cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị T1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Kết quả xác minh thể hiện: Chị Nguyễn Thị T1, hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và anh Trần Văn T2, có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Chị T1 và anh T2 kết hôn với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ không còn hiểu nhau, không có tiếng nói chung, anh T2 ham chơi, không chịu khó làm ăn và tham gia các tệ nạn xã hội nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xích mích. Chị T1 và anh T2 hiện nay đã sống ly thân được hơn 8 năm. Trong thời gian mâu thuẫn đã được gia đình nhiều lần hoà giải nhưng không thành.

Anh Trần Văn T2 làm lao động tự do, không có mặt tại địa phương và anh T2 vẫn thường xuyên về nhà khi gia đình có việc riêng rồi lại đi ngay. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần anh T2 vẫn không đến Toà án làm việc. Do vậy Toà án nhân dân huyện Sơn Dương chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ với nguyên đơn và không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn khi tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng đối với bị đơn anh Trần Văn T2 không chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T2 kết hôn vào năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Do vậy, căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX xử cho chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn với anh Trần Văn T2; giao cháu Trần Thị Huyền T3, sinh ngày 25/4/2010 cho chị Nguyễn Thị T1 là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về tài sản chung, về vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị T1 đều xác định không có, không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị T1 đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T2 và giao nuôi con chung khi ly hôn; không đề nghị giải quyết về tài sản, đất đai, công nợ chung. Do vậy, quan hệ pháp luật ở đây được xác định là “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập anh Trần Văn T2 nhiều lần nhưng anh T2 không đến làm việc, đây được xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn T2 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 19/7/2011 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau phát sinh mâu thuẫn. Tháng 01 năm 2025 chị Nguyễn Thị T1 có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T2.

Như vậy, cuộc sống hôn nhân của chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T2 có hạnh phúc thời gian đầu sau phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, không hạnh phúc nên xác định hôn nhân của chị T1 anh T2 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn với anh Trần Văn T2.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T2 có 01 con chung là Trần Thị Huyền T3, sinh ngày 25/4/2010.

Xét thấy, cháu Trần Thị Huyền T3 là con chung của chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T2 nên anh chị đều cùng phải có nghĩa và trách nhiệm đối với cháu. Tuy nhiên, do anh T2 không có mặt ở địa phương, quá trình giải quyết chị T1 có quan điểm được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T3 và không yêu cầu anh T2 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Lời khai của cháu Trần Thị Huyền T3 có trong hồ sơ thể hiện cháu có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và đảm bảo quyền lợi của các đương sự sau khi ly hôn, căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cần giao cháu Trần Thị Huyền T3, sinh ngày 25/4/2010 cho chị Nguyễn Thị T1 là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trần Văn T2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.

2.4. Về vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị T1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn với anh Trần Văn T2.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 19 tháng 7 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang).

2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Huyền T3, sinh ngày 25/4/2010 cho chị Nguyễn Thị T1 là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Trần Văn T2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T1 và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000003033742, ngày 21/02/2025 của Công ty cổ phần T4 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Toà án số: 000017 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Chị Nguyễn Thị T1 đã nộp đủ án phí của vụ án.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ