vanban.org

Bản án 41/2025/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Bích T.

[1] Về hôn nhân: Chị Lê Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Văn P. [2] Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Mai T, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Lê Bích T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được. Anh Nguyễn Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.700.000 đồng, b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Bích T.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2
ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HN-ST
Ngày: 21/8/2025
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Huỳnh Thị Mỹ Hà

+ Bà Huỳnh Thị Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 168/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

1. . Nguyên đơn: Lê Bích T, sinh năm xxxx (xin mặt);

Địa chỉ: số xx/xx đường xxx ấp B, xã T, thành phố H (số xxx ấp B, xã T, huyện C, thành phố H cũ)

2. Bị đơn: Nguyễn Văn P, sinh năm xxxx (có mặt);

Địa chỉ: ấp T x, xã T, tỉnh Đ ( ấp x, xã T, huyện G, tỉnh T cũ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Bích T trình bày ý kiến:

+ Về hôn nhân: Chị và anh P cưới nhau vào năm 2018 do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã Thái Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, cuộc sống không hạnh phúc, anh P không có trách nhiệm với vợ con. Chị và anh P sống ly thân với nhau từ cuối năm 2020 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nữa nên chị xin được ly hôn với anh P.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Mai T, sinh ngày xx/xx/xxxx. Hiện con đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.700.000 đồng.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn P trình bày ý kiến:

+ Về hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày với chị T về thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T chịu sự tác động từ phía gia đình vợ. Anh và chị T sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị T do mâu thuẫn vợ chồng không đến mức phải ly hôn và do anh còn thương vợ, thương con.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Mai T, sinh ngày xx/xx/xxxx. Hiện con đang sống với mẹ, trường hợp ly hôn anh yêu cầu được nuôi con, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

* Tại phiên tòa, chị T xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh P. Về con chung, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Ngọc Mai T, sinh ngày xx/xx/xxxx, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.700.000 đồng.

* Anh P không đồng ý ly hôn, trường hợp ly hôn anh yêu cầu được nuôi con là cháu Nguyễn Ngọc Mai T, sinh ngày xx/xx/xxxx, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: gồm có 02 lượng vàng 24k, hiện chị T đang quản lý số vàng này, khi ly hôn anh không yêu cầu giải quyết mà để lại số vàng này cho con.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chị T yêu cầu ly hôn với Phúc và yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Mai T, sinh ngày xx/xx/xxxx, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.700.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ và ý kiến của các đương sự:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị T và anh P tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã Thái Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh)

. Nay chị T xin ly hôn với anh P nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “Xin ly hôn”. Bị đơn anh P trú tại địa chỉ: ấp Tân Phước 6, xã Tân Đông, tỉnh Đồng Tháp ( ấp 6, xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang cũ) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị T yêu cầu xin ly hôn với anh P do quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nhau, cuộc sống không hạnh phúc, anh P không có trách nhiệm với vợ con. Chị T và anh P không sống chung với nhau từ năm 2020 cho đến nay, trong thời gian này chị T và anh P đều không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm với nhau. Anh P không đồng ý ly hôn với chị T nhưng anh không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh P là có căn cứ chấp nhận.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Mai T, sinh ngày xx/xx/xxxx. Khi ly hôn chị T và anh P đều yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu T là bé gái, hiện đang sống ổn định với chị T nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu T cho chị T nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con, chị T yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.700.000 đồng, khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu này của chị T là có cơ sở vì Hội đồng xét xử giao chị T nuôi dưỡng cháu T. Anh P không trực tiếp nuôi con nên anh P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng chị T yêu cầu là 1.700.000 đồng, xét mức cấp dưỡng này là phù hợp với mức thu nhập của anh P, phù hợp với chi phí sinh hoạt học tập của cháu T tại thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng nên chấp nhận.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: chị T và anh P trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

Về án phí: do chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định. Anh P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng.

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Bích T.

[1] Về hôn nhân: Chị Lê Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Mai T, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Lê Bích T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được. Anh Nguyễn Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.700.000 đồng, bắt đầu thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, lao động được.

Chị T và anh P có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.

[3] Về án phí: Chị Lê Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0014247 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp) nên chị T đã nộp xong án phí.

Anh Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

[4] Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được tính từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Cỡ chữ