vanban.org

Bản án 41/2025/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Ngọc D.

Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Ngọc D ly hôn anh Nguyễn Trung H. Giấy chứng nhận kết hôn số 57, đăng ký ngày 05/6/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Mê Pu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận(cũ) giữa chị Hồ Thị Ngọc D và anh Nguyễn Trung H hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Ngọc D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HN&GĐ-ST
Ngày: 30-9-2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Thiện.

2/ Ông mai Thương.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Chí Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 17, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HN&GĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HN&GĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/QĐST-HN&GĐ ngày 13 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Ngọc D, sinh năm 1997;

Nơi cư trú: Số 15, đường số 37, xóm 3, thôn 5, xã Nd, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1995;

Nơi cư trú: Số 244, đường ĐT 766, thôn Mê Pu 8, xã Nt, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2020, chị D và anh H đã kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nt, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị D nhân ra có những việc không thể dung hòa, anh H ăn chơi gây nợ nần nhiều, mất đi tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống quá lớn dẫn đến không có hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân. Nay chị D xác định vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, quý trọng nhau, mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, không hàn gắn được nên chị D yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị D và anh H có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 21/01/2021 và Nguyễn Đăng Khang, sinh ngày 21/03/2025. Sau khi ly hôn, chị D yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với bị đơn, không yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản chung và nợ.

Bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Hồ Thị Ngọc D ly hôn anh Nguyễn Trung H.

2. Về con chung: Giao cho chị D quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 21/01/2021 và Nguyễn Đăng Khang, sinh ngày 21/03/2025.

3. Ghi nhận ý kiến của chị D về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản và nợ chung khi ly hôn.

Buộc chị D phải chịu án phí theo quy định.

(Có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Hồ Thị Ngọc D khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn Nguyễn Trung H, bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại thôn Mê Pu 8, xã Nt, tỉnh Lâm Đồng.

Căn cứ Điều 51, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

Về tố tụng: Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và không có đơn xin xét xử vắng mặt.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

Về hôn nhân: Chị D và anh H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến hôn nhân vào năm 2020, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mê Pu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận cũ (nay là xã Nt, tỉnh Lâm Đồng) theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 57, đăng ký ngày 05/6/2020. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, chị D và anh H sống chung hạnh phúc với nhau được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo lời khai của bà Huệ là do chị D và anh H ăn chơi gây nợ nần nhiều, mất đi tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống quá lớn dẫn đến không có hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân; quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa, chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết ly hôn anh H. Bị đơn biết nguyên đơn khởi kiện ly hôn nhưng không có động thái tác động để nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện ly hôn, để vợ chồng đoàn tụ tiếp tục chung sống với nhau.

Kết quả xác minh đối với bà Nguyễn Thị Cúc (mẹ ruột của anh H) vào ngày 08/9/2025 xác định giữa chị D và anh H có mâu thuẫn với nhau.

Từ những phân tích trên cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh H.

Về con chung: Căn cứ bản sao giấy khai sinh số 28, đăng ký ngày 29/01/2021 và bản sao giấy khai sinh số 71, đăng ký ngày 10/04/2025 tại Ủy ban nhân dân xã Mê Pu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (cũ) thì có cơ sở để khẳng định cháu Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 21/01/2021 và Nguyễn Đăng Khang, sinh ngày 21/03/2025 là con chung của chị D và anh H.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị D đều nêu nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Tại thời điểm giải quyết ly hôn thì cháu Khoa và cháu Khang dưới 07 tuổi, hiện tại cháu đang sinh sống ổn định cùng gia đình của chị D, do đó việc thay đổi môi trường sống ít nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến cháu; mặt khác việc cháu sống cùng mẹ sẽ phát triển tốt hơn, chị D có sức khỏe và không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên; do đó, sau khi xem xét quyền lợi về mọi mặt của cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cho chị D quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại khoản Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị D không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhận thấy đây là ý kiến tự nguyên của chị D nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Ngọc D.

1. Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Ngọc D ly hôn anh Nguyễn Trung H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 57, đăng ký ngày 05/6/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Mê Pu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận(cũ) giữa chị Hồ Thị Ngọc D và anh Nguyễn Trung H hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị Ngọc D quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 21/01/2021 và Nguyễn Đăng Khang, sinh ngày 21/03/2025.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Chị Hồ Thị Ngọc D phải nộp số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng theo biên lai thu số 0001370 ngày 28/7/2025. Chị Hồ Thị Ngọc D đã nộp đủ tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ