vanban.org

Bản án 41/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Tuyên án 09/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giam là ngày 20/3/2024. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh T phạm tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST
Ngày 09-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.

Ông Nguyễn Văn Năm.

2.

Ông Nguyễn Hồng Phong.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo: Đỗ Minh T; sinh năm 1989 tại Long An; Nơi cư trú: Số nhà 201/4, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An, nghề nghiệp: Không, trình độ học vấn: Lớp 5/12, dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Đỗ Văn S và bà Nguyễn Thị Ph; có vợ tên Cao Thị Hồng Nh và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 02/11/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự và 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 28/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2013 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 184/GCN-CHXHPT của Trại giam Thạnh Hòa, thi hành xong nghĩa vụ nộp án phí theo Biên lai thu tiền số 07107 ngày 11/04/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, đã thi hành xong nghĩa vụ dân sự.

Ngày 19/3/2004, bị Công an huyện Thủ Thừa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên: đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Ngày 22/8/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện Thủ Thừa áp dụng biện pháp xử lý hành chính: đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 2390/QĐ-UBND.

Ngày 03/12/2015, bị Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 225/QĐ-UBND, chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số: 01/QĐ-UBND ngày 04/3/2016 của UBND xã Bình Thạnh.

Ngày 06/9/2019, bị Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng vì nghiện và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 13/QĐ-UBND, chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số: 834/GCN-UBND ngày 09/12/2019 của UBND xã Bình Thạnh.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thủ Thừa từ ngày 20/3/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.

Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1962; Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).

2.

Bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).

3.

Bà Cao Thị Hồng Nh, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).

4.

Ông Đỗ Minh T1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8 năm 2023, trong lúc đang chơi với con tên Đỗ Minh T2, sinh năm 2019 tại Công viên thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An thì Đỗ Minh T nhìn thấy 02 viên đạn có đặc điểm vỏ đạn và đầu đạn màu đỏ đồng tại vị trí trên mặt cỏ, gần gốc cây bên cạnh xích đu có hình con rồng nên Tuyền đã nhặt và đem về cất giấu vào túi xách màu đen treo trong phòng ngủ tại nhà số 201/4, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An với mục đích sẽ làm thành mặt dây chuyền để đeo. Đến ngày 25/10/2023, qua kiểm tra nhà do Đinh Hoàng P, sinh năm 1987, thuê tại khu phố Cầu Xây, thị trấn Thủ Thừa, tỉnh Long An thì Công an huyện Thủ Thừa phát hiện tại đây có P, T và nhiều người khác tụ tập, phát hiện nhiều hung khí và pháo nổ nên mời về làm việc. T thừa nhận cùng bạn bè chuẩn bị hung khí để đi đánh nhau, ngoài hung khí bị phát hiện tại nhà P thuê thì T còn cất giấu nhiều hung khí khác tại nhà T đang ở nên Công an huyện Thủ Thừa tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại nhà ở phát hiện và thu giữ trong phòng ngủ của Tuyền các vật chứng: 02 viên đạn mà T đã nhặt và đem về nhà cất giấu nêu trên (ký hiệu A1); các vật do P đưa T cất giữ vào khoảng ngày 20/10/2023 gồm: 03 viên đạn, mỗi viên có vỏ màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu đen; 01 vỏ đạn màu vàng; 01 viên đạn, có vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen; 01 vỏ đạn màu vàng; 01 thân súng, bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa, màu đen, chiều dài thân súng là 17cm; 01 thân súng, bằng nhựa, ổ đạn trái khế bằng kim loại, màu trắng, chiều dài thân súng là 16,5cm; 01 nòng súng ngắn, màu đen, có chữ SMITH & WESSON; 01 ổ đạn, bằng kim loại, có 06 lỗ; 01 súng hơi màu đen, các bộ phận bị tháo rời ra; 01 bịch đạn chì (tất cả được niêm phong ký hiệu A2); 01 cây kiếm nhật; 01 cây chĩa 01 mũi; 02 đầu chĩa 03 ngạnh và 01 cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại dài 42cm, cán gỗ dài 24cm là tài sản của Tuyền dùng để phòng thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủ Thừa đã trưng cầu giám định và chuyển toàn bộ vật chứng thu được tại nhà Tuyền đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Long An thụ lý theo thẩm quyền.

Kết luận giám định số: 6911/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

1. 02 viên đạn (ký hiệu A1) gửi giám định là loại đạn cỡ (7,62 x 25)mm thuộc vũ khí quân dụng. Đạn sử dụng để bắn được cho một số loại súng quân dụng như: K54, K50…

2. Mẫu vật (ký hiệu: A2) gửi giám định gồm:

2.1. 03 viên đạn màu vàng cỡ (5,6 x15,5)mm, 01 vỏ đạn đã bắn màu vàng cỡ (5,6 x15,5)mm là loại đạn thể thao, không phải vũ khí quân dụng, không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

2.2. 01 viên đạn cao su cỡ (9mm x 22mm), 01 vỏ đạn đã bắn màu vàng cỡ (9mm x 22mm) thuộc loại đạn công cụ hỗ trợ, không phải là vũ khí quân dụng, không có tính nắng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

2.3. 01 khẩu súng ổ quay hiệu: “Sky Marshal”, ốp báng súng màu xanh dương, hiện tại súng không có bộ phận cò, búa đập và 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng, ốp báng súng màu đen, không nhãn hiệu, hiện tại súng không có bộ phận cò, ổ quay, búa đập là đồ chơi nguy hiểm, không phải là vũ khí quân dụng, không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

2.4. Không đủ cơ sở xác định tính năng, tác dụng của 01 ổ quay bằng kim loại màu trắng có 06 lỗ và 01 súng súng hiệu: “SMITH & WESSON”.

2.5. Các bộ phận đã tháo rời và 01 bịch đạn mũi dù đường kính 5,5mm là các bộ phận và đạn của loại súng hơi thuộc súng săn, không phải là vũ khí quân dụng, không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng hơi (khi đã lắp hoàn chỉnh) bắn đạn mũi dù trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

3. Để xác định tầm sát thương, khả năng sát thương của các mẫu vật gửi giám định đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tổ chức thực nghiệm.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Đã thu giữ các vật chứng sau: 02 viên đạn, mỗi viên có vỏ đạn và đầu đạn màu đỏ đồng (được niêm phong ký hiệu A1); 03 viên đạn, mỗi viên có vỏ màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu đen; 01 vỏ đạn màu vàng; 01 viên đạn, có vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen; 01 vỏ đạn màu vàng; 01 thân súng, bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa, màu đen, chiều dài thân súng là 17cm; 01 thân súng, bằng nhựa, ổ đạn trái khế bằng kim loại, màu trắng, chiều dài thân súng là 16,5cm; 01 nòng súng ngắn, màu đen, có chữ SMITH & WESSON; 01 ổ đạn, bằng kim loại, có 06 lỗ; 01 súng hơi màu đen, các bộ phận bị tháo rời ra; 01 bịch đạn chì (tất cả được niêm phong ký hiệu A2); 01 cây kiếm nhật; 01 cây chĩa 01 mũi; 02 đầu chĩa 03 ngạnh; 01 cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại dài 42cm, cán gỗ dài 24cm.

Xử lý vật chứng:

Vật chứng đã chuyển Ban Quân khí Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Long An bảo quản chờ xử lý: 02 viên đạn cỡ (7,62x25)mm (được niêm phong).

Các vật chứng còn lại đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An giải quyết theo thẩm quyền.

Cáo trạng số 46/CT-VKSLA-P2 ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố bị cáo Đỗ Minh T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 38; Điều 50 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Minh T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 viên đạn, mỗi viên có vỏ đạn và đầu đạn màu đỏ đồng (được niêm phong ký hiệu A1) là vật bị cấm tàng trữ được quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 nên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định tịch thu giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Long An để xử lý theo thẩm quyền.

Đối với 03 viên đạn, mỗi viên có vỏ màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu đen; 01 vỏ đạn màu vàng; 01 viên đạn, có vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen; 01 vỏ đạn màu vàng; 01 thân súng, bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa, màu đen, chiều dài thân súng là 17cm; 01 thân súng, bằng nhựa, ổ đạn trái khế bằng kim loại, màu trắng, chiều dài thân súng là 16,5cm; 01 nòng súng ngắn, màu đen, có chữ SMITH & WESSON; 01 ổ đạn, bằng kim loại, có 06 lỗ; 01 súng hơi màu đen, các bộ phận bị tháo rời ra; 01 bịch đạn chì (tất cả được niêm phong ký hiệu A2); 01 cây kiếm nhật; 01 cây chĩa 01 mũi; 02 đầu chĩa 03 ngạnh; 01 cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại dài 42cm, cán gỗ dài 24cm không phải là vũ khí quân dụng, không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Long An đã giao cho Công an huyện Thủ Thừa giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp nên không đề nghị HĐXX xem xét giải quyết.

Buộc bị cáo Đỗ Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đỗ Minh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không có khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiền hành tố tụng. Bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Long An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

Về nội dung:

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, biên bản khám xét, bản ảnh khám xét khẩn cấp, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng tháng 8 năm 2023, Đỗ Minh T nhặt 02 viên đạn có đặc điểm mỗi viên có vỏ và đầu đạn màu đỏ đồng, kích cỡ (7,62 x25)mm là vũ khí quân dụng ở Công viên thị trấn Thủ Thừa rồi đem cất giấu trong nhà số 201/4, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An đến ngày 28/10/2023 thì bị Công an huyện Thủ Thừa khám xét khẩn cấp chỗ ở phát hiện và thu giữ. Như vậy, bị cáo Đỗ Minh T đã có hành vi tàng trữ 02 viên đạn có đặc điểm mỗi viên có vỏ và đầu đạn màu đỏ đồng, kích cỡ (7,62 x25)mm là vũ khí quân dụng. Hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng của bị cáo T không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Do đó, hành vi mà bị cáo T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý của nhà nước về vũ khí quân dụng. Vũ khí quân dụng là vũ khí được chế tạo, sản xuất đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, được trang bị cho các lực lượng vụ trang và các lực lượng khác để thi hành công vụ, là những loại công vụ có đặc tính nguy hiểm, có thể gây mất an toàn cho cuộc sống cộng đồng và nhà nước có chế độ quản lý đặc biệt. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo T đã bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Minh T là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 (hai) viên đạn cỡ (7,62x25)mm là vật bị cấm tàng trữ được quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Long An để xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.

Đối với 03 viên đạn, mỗi viên có vỏ màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu đen; 01 vỏ đạn màu vàng; 01 viên đạn, có vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen; 01 vỏ đạn màu vàng; 01 thân súng, bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa, màu đen, chiều dài thân súng là 17cm; 01 thân súng, bằng nhựa, ổ đạn trái khế bằng kim loại, màu trắng, chiều dài thân súng là 16,5cm; 01 nòng súng ngắn, màu đen, có chữ SMITH & WESSON; 01 ổ đạn, bằng kim loại, có 06 lỗ; 01 súng hơi màu đen, các bộ phận bị tháo rời ra; 01 bịch đạn chì (tất cả được niêm phong ký hiệu A2); 01 cây kiếm nhật; 01 cây chĩa 01 mũi; 02 đầu chĩa 03 ngạnh; 01 cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại dài 42cm, cán gỗ dài 24cm không phải là vũ khí quân dụng, không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Long An đã giao cho Công an huyện Thủ Thừa giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.

Ông Đỗ Văn S, bà Nguyễn Thị Ph, em của T là ông Đỗ Minh T1 và vợ của T là bà Cao Thị Hồng Nh không biết việc T có tàng trữ vũ khí quân dụng tại nhà nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với những người này là phù hợp.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Long An đã chuyển hành vi tàng trữ vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ, đồ chơi nguy hiểm, súng săn và vũ khí khác của Đỗ Minh T bị phát hiện ngày 28/10/2023 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủ Thừa giải quyết theo thẩm quyền theo Công văn số: 728/ANĐT ngày 31/12/2023 là phù hợp.

Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa đề nghị của bà Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật được chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giam là ngày 20/3/2024.

2. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đỗ Minh T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 64, Điều 66 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017:

Tịch thu giao Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Long An xử lý theo thẩm quyền: 02 (hai) viên đạn cỡ (7,62x25)mm.

(Vật chứng này hiện nay do Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Long An đang quản lý theo Lệnh nhập kho vật chứng số 41, ngày 22/4/2024 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Long An).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Minh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn S, bà Nguyễn Thị Ph, bà Cao Thị Hồng Nh, ông Đỗ Minh T1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024).

Cỡ chữ