vanban.org

Bản án 41/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 12/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Dương - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN D1
HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS- ST
Ngày: 12/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN D1 HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.

- Các hội thẩm nhân D1: Ông Đỗ Đình Cường - Chủ tịch Hội nông D1 huyện Tân Uyên; Ông Nguyễn Văn Quang - Phó hiệu trưởng Trường tiểu học số 2 thị trấn Tân Uyên.

- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Toà án nhân D1 huyện Tân Uyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân D1 huyện Tân Uyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên

Ngày 12/3/2024 tại trụ sở Tòa án nhân D1 huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST - HS, ngày 06/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST - HS ngày 01/3/2024 đối với bị cáo:

Lò Văn D, sinh năm: 1997; Nơi sinh: Huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản Quyết Tiến, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; D1 tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Lò Văn Đón, sinh năm: 1973; mẹ đẻ bà Hoàng Thị Pành, sinh năm: 1974; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/10/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Tòng Văn D1, sinh năm: 1993. (có mặt).

Trú tại: Bản Nà Khan, xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Văn D, sinh năm 2002; Trú tại: Bản Quyết Tiến, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

2. Anh Hoàng Văn L, sinh năm 2004; Trú tại: Bản Quyết Tiến, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

3. Anh Hoàng Văn D2, sinh năm 2004; Trú tại: Bản Quyết Tiến, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

4. Anh Lò Văn Nguyên, sinh năm 1996; Trú tại: Bản Quyết Tiến, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

- Người Làm Chứng:

1. Anh Lò Văn D, sinh năm 1999; Trú tại: Bản Bó Lun, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

2. Anh Lò Văn T, sinh năm 1989; Trú tại: Bản Bó Lun, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

3. Cháu Lò Thị H, sinh ngày; 12/7/2007; Trú tại: Bản Bó Lun, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho cháu H: Bà Lò Thị Đun sinh năm: 1978; Trú tại: Bản Bó Lun, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D2 biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 16/8/2023 Lò Văn D, Hoàng Văn D, Hoàng Văn L, Hoàng Văn D2, Lò Văn Nguyên đến quán bia Văn D tại bản Bó Lun, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu để uống bia. Đến 22 giờ cùng ngày thì có Tòng Văn D1 đến quán bia hỏi mua nước, một lúc sau Lò Văn T cũng đến và ngồi cùng bàn trong quán bia với anh D1 (do hai người có quen biết nhau). Lúc này Lò Văn D có nghe anh D1 hỏi mua nước, D gây sự nói: “ở đây quán bia không bán nước”, anh D1 trả lời “tôi thích uống nước gì tôi uống”, lời qua tiếng lại, Lò Văn D cầm một chiếc cốc thủy tinh ném về phía anh D1 , chiếc cốc trúng mặt bàn 02 mảnh vỡ bật trúng cằm anh D1, nên cằm anh D1 bị chảy máu. Lúc này cháu Lò Thị H em gái anh Lò Văn D (chủ quán) chứng kiến nên đưa giấy ăn cho anh D1 lau vết thương đang chảy máu. Những người bạn của Lò Văn D gồm Hoàng Văn D, Hoàng Văn L, Lò Văn Nguyên, Hoàng Văn D2 vào can nhăn. Tuy nhiên khoảng 02 phút sau giữa Lò Văn D và Tòng Văn D1 vẫn lời qua tiếng lại, sau đó anh D1 vô tình làm rơi bình H thủy tinh xuống đất, nghe thấy bình H vỡ Lò Văn D nghĩ anh D1 đánh mình nên cầm chiếc cốc thủy tinh ném về phía anh D1 và lao vào đấm đá anh D1, D2 cũng cầm 01 chiếc ghế nhựa đập một phát trúng vùng đầu anh D1. Tiếp đó Hoàng Văn D cũng lao vào dùng chân tay đấm đá anh D1, Lò Văn D tiếp tục dùng chân đá anh D1. Nguyên cũng đấm anh D1 02 phát vào lưng, lúc này L cũng cầm một chiếc ghế nhựa đập 02 phát vào phần chân đá 02 phát vào lưng anh D1. Anh Lò Văn D (chủ quán) mới hô “nó ngất rồi” nên Lò Văn D, Hoàng Văn D, Nguyên, L, D2 mới dừng lại không đánh nữa.

Sau đó anh D1 được người D1 đưa vào trung tâm y tế huyện Tân Uyên để sơ cứu, điều trị, và chuyển lên Bệnh viện đa kH tỉnh Lai Châu điều trị.

Tại kết luận giám định số: 163/KLTTCT-TTPYLC ngày 05/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Lai Châu kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tòng Văn D1 như sau:

- Tại thời điểm giám định là 15%; áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019.

- Kết luận khác: + Cơ chế hình thành vết thương vật gây nên thương tích: Vật tày có canh gây nên.

+ Giám định thương tích đối với từng vết thương có trên cơ thể Tòng Văn D1 là bao nhiêu phần trăm: Vùng đỉnh đầu có sẹo kích thước dài 4,5cm, rộng 0,6cm, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%; Vùng thái D trái có sẹo kích thước dài 1,5cm, rộng 0,3cm, có tỷ lệ tổn thương cơ thể 1%; Vùng mặt ở cằm bên trái có 02 vết sẹo: Vết 1 kích thước dài 2,5cm, rộng 0,6cm, có tỷ lệ tổn thương cơ thể 6%, vết 2 kích thước dài 1,5cm, rộng 0,4cm, có tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%; Vùng cổ có sẹo kích thước dài 1,7cm x 0,6cm, có tỷ lệ tổn thương cơ thể 4%.

Quá trình điều tra xác định: Lò Văn D dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh D1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15% (trong đó vùng cằm là 9%, vùng đỉnh đầu là 2%; vùng thái D trái là 1%; vùng cổ là 4%)

Đối với Hoàng Văn D, D2, Nguyên, L dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh D1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7% (gồm vùng đỉnh đầu là 2%; vùng thái D trái là 1%; vùng cổ là 4%)

Đối với Hoàng Văn D, D2, Nguyên, L dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh D1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7% thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại. Giữa Hoàng Văn D, D2, Nguyên, L với anh D1 đã thỏa thuận về mức bồi thường, nên ngày 17/10/2023 anh D1 có đơn đề nghị không khởi tố đối với Hoàng Văn D, D2, Nguyên, L.

Vật chứng của vụ án: 04 ghế nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật đã bị vỡ; 01 ghế nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật, không có tựa đã bị vỡ; 01 đĩa sứ màu trắng bị vỡ; 01 bát sứ màu trắng bị vỡ; 01 cốc nhựa màu trắng bị vỡ; 04 cốc thủy tinh bị vỡ; 01 lọ H bị vỡ hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án D1 sự huyện Tân Uyên. 01 thẻ nhớ loại 08GB nhãn hiệu SanDisk Ultra, Made TaiWan có chứa đoạn video nhóm Lò Văn D gây thương tích cho anh D1 lưu hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm D1 sự: Lò Văn D, Hoàng Văn D, D2, Nguyên, L đã bồi thường cho anh D1 tổng số tiền là 108.000.000 đồng (trong đó Lò Văn D bồi thường số tiền 22.000.000 đồng). Anh Lò Văn D (chủ quán) không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKS- TU, ngày 05/02/2024, Viện kiểm sát nhân D1 huyện Tân Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn D phạm tội " Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình T giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; 38 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về trách nhiệm D1 sự: Bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 04 ghế nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật đã bị vỡ; 01 ghế nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật, không có tựa đã bị vỡ; 01 đĩa sứ màu trắng bị vỡ; 01 bát sứ màu trắng bị vỡ; 01 cốc nhựa màu trắng bị vỡ; 04 cốc thủy tinh bị vỡ; 01 lọ H bị vỡ.

Về án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm và nhất trí với bản luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân D1 huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, và hứa chấp hành tốt các quy định của pháp luật mong Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân D1 huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng. Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của những người tham gia tố tụng. Vì vậy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293; Điểm d khoản 2 Điều 308 - Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại quán bia “Văn D” có địa chỉ bản Bó Lun, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Tại đây, khoảng 20 giờ ngày 16/8/2023 bị cáo Lò Văn D đến quán bia để uống bia, sau khi uống bia đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì D gây sự với anh Tòng Văn D1 dẫn đến giữa hai người có lời qua tiếng lại với nhau. Lò Văn D sau đó đã dùng cốc thủy tinh ném về phía anh D1 trúng vào cằm anh D1 gây chảy máu tổn thương cơ thể là 9%, sau đó giữa bị cáo và anh D1 vẫn tiếp tục lời qua tiếng lại với nhau, những người bạn của bị cáo đi cùng khuyên bảo không đánh nhau nữa, tuy nhiên khoảng 02 phút sau do anh D1 làm rơi bình H nên bị cáo và những người bạn của bị cáo tên Hoàng Văn D, Hoàng Văn L, Lò Văn Nguyên, Hoàng Văn D2 tưởng anh D1 tiếp tục gây sự nên đã lao vào đấm đá anh D1 gây tổn thương cơ thể là 7%. Hậu quả anh D1 bị tổn thương cơ thể 15% (trong đó vùng cằm là 9%, vùng đỉnh đầu là 2%; vùng thái D trái là 1%; vùng cổ là 4%).

Như vậy hành vi của bị cáo Lò Văn D dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ gây thương tích cho anh D1 là 15% nên đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự với hai tình T định khung là: “dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ”. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân D1 huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lò Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 - Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, quan điểm về tội danh, đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về mức hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. HĐXX xét thấy: Bị cáo khi phạm tội đã uống bia có chất kích thích trong người phạm tội không làm chủ được hành vi, bản thân nhận thấy sai phạm của mình, có nhiều tình T giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là quá cao, nên HĐXX chỉ chấp nhận một phần đề nghị của vị đại diện Viện sát nhân huyện Tân Uyên để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo.

[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[5] Về tình T tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình T tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Xét về tình T giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo là người D1 tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân D1 huyện Tân Uyên tặng giấy khen và được Chủ tịch Ủy ban nhân D1 xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên tặng giấy khen. Nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng các tình T giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự.

[7] Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo không chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật. Xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe giáo dục bị cáo thành công D1 có ích cho xã hội.

[8] Về trách nhiệm D1 sự: Bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về mức bồi thường. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm một khoản nào nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Về vật chứng còn lại của vụ án: 04 ghế nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật đã bị vỡ; 01 ghế nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật, không có tựa đã bị vỡ; 01 đĩa sứ màu trắng bị vỡ; 01 bát sứ màu trắng bị vỡ; 01 cốc nhựa màu trắng bị vỡ; 04 cốc thủy tinh bị vỡ; 01 lọ H bị vỡ không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Về các vấn đề khác: Đối với Hoàng Văn D, D2, Nguyên, L có dùng hung khí đánh Hải gây tổn thương cơ thể là 7% (gồm vùng đỉnh đầu là 2%; vùng thái D trái là 1%; vùng cổ là 4%), tuy nhiên bị hại không yêu cầu khởi tố đối với Hoàng Văn D, D2, Nguyên, L nên không có căn cứ để khởi tố những người nêu trên là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 155 và khoản 8 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự và Công an huyện Tân Uyên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này Lò Văn D2 bị thương tích nhẹ ở vùng đầu nhưng không biết thương tích do đâu tạo nên. Quá trình điều tra, D2 từ chối giám định, không đề nghị giải quyết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; 38; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 - Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn D, phạm tội "Cố ý gây thương tích".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn D 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 ghế nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật đã bị vỡ; 01 ghế nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật, không có tựa đã bị vỡ; 01 đĩa sứ màu trắng bị vỡ; 01 bát sứ màu trắng bị vỡ; 01 cốc nhựa màu trắng bị vỡ; 04 cốc thủy tinh bị vỡ; 01 lọ H bị vỡ.

(Hiện số vật chứng đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện Tân Uyên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2024).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ