vanban.org

Bản án 41/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 31/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/02/2024. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận giám định số 243/KL-KTHS-MT ngày 06/02/2024, bê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án 41 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST
Ngày: 31-5-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh.

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Lương M Tường.

- Ông Nguyễn Văn Phiếu.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trương Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Đinh Văn M, sinh năm 1997 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Bản Th, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con Đinh Văn D và bà Quách Thị T; Vợ, con:Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 28/12/2020, Chủ tịch UBND xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 04 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã. Ngày 28/3/2021 M đã chấp hành xong quyết định này. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2024, đến ngày 07/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. (có mặt).

* Người làm chứng: Ông Đinh Văn Th, anh Đinh Văn T, anh Bùi Văn Ngh, bà Quách Thị T(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Văn M là người sử dụng ma túy, loại Heroine. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 16/12/2023 M một mình điều khiển 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu DAELIMIKD màu sơn xanh, biển kiểm soát 35AN-05432 từ nhà ở bản Thường Sung, xã Ký Phù, huyện N đến huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi M đi đến khu vực đường Quốc lộ 45 thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa thì gặp một người nam giới (M không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường trông giống người nghiện ma túy. M đi lại gần người nam giới này và hỏi:“Anh có ma túy không, bán cho em năm trăm”, người nam giới hiểu ý của M nên đồng ý nói: “Có, em đưa tiền đây”.

- 1 -

Đinh Văn M lấy ra số tiền 500.000 đồng đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa cho M 01 túi nilong nhỏ màu trắng có gờ mép màu đỏ, nhìn bên trong thấy có chất tinh thể màu trắng. M xác định đúng là ma túy đá nên đã cất giấu túi nilon này vào bên trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Người nam giới bán ma túy cho M cũng bỏ đi luôn.

Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, M đi đến khu vực đường liên xã thuộc thôn bản Mét, xã K thì gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã K đang làm nhiệm vụ. Tổ công tác phát hiện thấy M có nhiều biểu hiện giống người nghiện ma túy nên đã yêu cầu M dừng xe, xuống xe để kiểm tra. Khi gặp Tổ công tác, biết bản thân không thể che giấu được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trên người nên Đinh Văn M đã tự giác giao nộp 01 túi nilong màu trắng có gờ mép màu đỏ bên trong có chất tinh thể màu trắng từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người của M và khai nhận đó là 01 túi ma túy đá của M mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của Đinh Văn M 01 túi ma túy có đặc điểm và tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong lắp sim số thuê bao 0987.689.543, 01 xe mô tô nhãn hiệu DAELIMIKD màu sơn xanh, biển kiểm soát 35AN-05432.

Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phương tiện thu giữ của M là 01 xe mô tô biển kiểm soát 35AN-05432 có đặc điểm nêu trên nhưng không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilong màu trắng có gờ mép màu đỏ thu giữ của Đinh Văn M có khối lượng cụ thể: là 0,21 gam (ký hiệu M) để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 243/KL-KTHS-MT ngày 06/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1980 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,1391 gam là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 243/KL-KTHS-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSNQ-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử bị cáo Đinh Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị:

- 2 -

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

* Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị: Xử phạt bị cáo Đinh Văn M từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/02/2024.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận giám định số 243/KL-KTHS-MT ngày 06/02/2024, bên trong là chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1391 gam, là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ, vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là vỏ túi, vỏ phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là vỏ túi, vỏ phong bì niêm phong ban đầu.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật là 200.000đ.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N. Lời nói sau cùng của bị cáo biết lỗi về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của các bị cáo: Đinh Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 0,1980 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang vào ngày 03/02/2024 tại khu vực đường liên xã, thuộc địa phận bản Mét, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy trái phép là vi phạm pháp luật, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ ma túy trái phép của bị cáo M đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điều 249: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- 3 -

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………………………………………….

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

……………………………………………..

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần chấp nhận.

. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo bị coi là có nhân thân xấu.

Về hình phạt và vai trò: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần phải xử phạt nghiêm minh, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo.

. Trong vụ án này quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán ma túy cho Đinh Văn M nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp khác: Đối với số ma túy còn lại và toàn bộ vỏ gói phong bì niêm phong, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và các đồ vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 4 -

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/02/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận giám định số 243/KL-KTHS-MT ngày 06/02/2024, bên trong là chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1391 gam, là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ, vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là vỏ túi, vỏ phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là vỏ túi, vỏ phong bì niêm phong ban đầu

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ