vanban.org

Bản án 41/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức và tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”.

Về hình phạt: - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 04 (b n) năm tù về tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Thị Hải phạm tội về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ q…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức và tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”.
  • Căn cứ chính? luật T tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự đ i
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 41/2024/HS-ST.
gày 26/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. à Vũ Thị Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thị hư Trang.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s : 25/2024/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 37/2024/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đ i với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986.

ơi cư trú: tổ dân ph A, thị trấn K, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt am; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn P, đã chết và bà Hà Thị B; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; chồng anh Đặng Văn ; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh ngày 05/3/2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: B n án s 30/2021/HS-ST ngày 08/6/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 06 năm tù về tội “Làm gi tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Nguyễn Thị H được hoãn chấp hành án phạt tù do nuôi con dưới 36 tháng tuổi; chưa nộp tiền án phí hình sự.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. (có mặt)

ơi cư trú: thôn G, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng: - Anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1984. (vắng mặt)

ơi cư trú: s nhà 05, ngõ 78, đường H, tổ 9, phường T, thành ph T, tỉnh Thái Bình.

- Anh Đặng Văn , sinh năm 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Kho ng tháng 5/2017, Nguyễn Thị H, liên hệ với một tài kho n facebook là “Ha Phuong” đặt làm một “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n gắn khác gắn liền với đất s CC 108572 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Thái Bình cấp ngày 07/3/2020, thửa đất s 432, tờ b n đồ s 19, diện tích 84,9m2 tại khu Văn Khôi, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương mang tên ông Đặng Văn , sinh năm 1980, CMND s 151542166, địa chỉ thường trú xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986, CCCD s 034186007831, địa chỉ thường trú thị trấn T, huyện K, tỉnh Thái Bình” mục đích khi cần thì sử dụng.

Ngày 02/3/2020, do cần tiền chi tiêu cá nhân, H liên lạc với anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1984, cư trú tại s nhà 05, ngõ 78, đường Hoàng Văn T, tổ 9, phường T, thành ph T, tỉnh Thái Bình - là nhân viên ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện Kiến Xương (Hcó quen biết từ trước với anh K vì là khách hàng vay vốn) để nhờ anh K vay hộ s tiền 120.000.000 đồng, anh K đồng ý. Anh K liên lạc với anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982, cư trú tại thôn G, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình (là bạn của anh K từ trước qua quan hệ khách hàng với ngân hàng) để hỏi vay s tiền 120.000.000 đồng cho H. Do tin tưởng anh K nên anh T đồng ý cho H vay s tiền 120.000.000 đồng mà không cần thế chấp tài s n và không lấy lãi suất. Sau đó anh K cung cấp s tài kho n 106819868888 ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam mang tên Nguyễn Thị H cho anh T. Anh T chuyển s tiền 120.000.000 đồng từ tài kho n s 101869996431 ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam mang tên Nguyễn Văn T đến s tài kho n của H. S tiền này H đã sử dụng, chi tiêu cá nhân hết, không đưa cho anh K kho n tiền nào và không sử dụng s tiền này vào mục đích bất hợp pháp.

Đến ngày 07/4/2020, H liên lạc với anh K hỏi vay tiền nhưng anh K không có tiền cho vay nên đã cho s điện thoại của anh T để H liên lạc với anh T vay tiền. H hỏi vay thêm s tiền 120.000.000 đồng, anh T nói với H là ph i có tài s n thế chấp, H đồng ý và nói có giấy chứng nhận thửa đất ở thị trấn Kiến Xương để anh T tin tưởng. Thấy H có tài s n thế chấp nên anh T đồng ý. Kho ng 21 giờ cùng ngày, anh T đi đến chỗ ở của H tại tổ dân ph Văn Khôi, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình. Tại đây, H đưa cho anh T tờ giấy ghi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n gắn khác gắn liền với đất s CC 108572 mang tên Đặng Văn và Nguyễn Thị H (giấy mà H đã đặt làm trên Facebook trước đó) để anh T tin tưởng là H có tài s n và có điều kiện kh năng thanh toán nợ cho anh T đồng thời cam kết sẽ thanh toán nên anh T đồng ý đưa cho H vay thêm s tiền 120.000.000 đồng, không lấy lãi suất. Anh T yêu cầu H i viết giấy xác nhận gộp c s tiền anh Thạo đã chuyển kho n cho H vay trước đó là tổng s tiền 240.000.000 đồng. H đồng ý và cam kết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 07/4/2020 H sẽ thanh toán s tiền trên cho anh T, nếu đến hẹn H không thanh toán cho anh T thì H hoàn toàn chịu trách nhiệm. H đưa Giấy chứng nhận s CC 108572 gi , giấy xác nhận cho anh T giữ và nhận s tiền 120.000.000 đồng của anh T. S tiền này H đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến thời hạn cam kết, anh T không thấy H tr tiền và không liên lạc được với H. Đến ngày 15/3/2023, do không có tiền thanh toán cho anh T, H đã viết Giấy hẹn thanh toán tiền cho anh T vào ngày 25/4/2023 đồng thời H cho anh T biết Giấy chứng nhận s CC 108572 mang tên H và anh N là gi . Đến ngày 25/4/2023 Hkhông thanh toán s tiền trên cho anh T. Ngày 25/10/2023, anh T gửi đơn t cáo hành vi của Nguyễn Thị H đến Cơ quan C nh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình.

Kết luận giám định s 1632/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất CC 108572. gười sử dụng đất, chủ sử hữu nhà và tài s n khác gắn liền với đất ông Đặng Văn , năm sinh 1980; CMND s : 151542166; Địa chỉ thường trú xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; bà Nguyễn Thị H; năm sinh 1986, CCCD s : 034186007831; Địa chỉ thị trấn T, huyện K, tỉnh Thái Bình cần giám định ký hiệu A là gi .

Ngày 14/6/2024, Nguyễn Thị H chuyển tiền tr lại anh Nguyễn Thành K s tiền 20.000.000 đồng.

Tại b n cáo trạng s 29/CT - VKSKX ngày 12/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy t bị cáo Nguyễn Thị H về tội về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d kho n 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n” theo quy định tại điểm c kho n 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy t bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung b n cáo trạng đã truy t . Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên b bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”.

Áp dụng điểm d, kho n 2, Điều 341; điểm c kho n 2 Điều 174; Điều 50; điểm s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; kho n 1 Điều 56; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự và điểm a kho n 2 Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; kho n 1 Điều 23, 26 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Qu c Hội.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”.

Tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo ph i chịu 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù cho hai tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”

Tổng hợp hình phạt 06 năm tù tại B n án s 30/2021/HS-ST ngày 08/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo ph i chịu 11 năm 06 tháng tù đến 12 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về vật chứng: Tiếp tục qu n lý 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n gắn liền với đất s CC 108572 ghi ngày 07/3/2020 để lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Tr lại anh Nguyễn Văn T tài liệu b n g c giấy hẹn thanh toán tiền lưu theo hồ sơ vụ án của Nguyễn Thị H i đề ngày 15/3/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H ph i bồi thường cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982, cư trú tại thôn G, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình s tiền 100.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo ph i nộp án phí hình sự sơ thẩm dân sự theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật t tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ qu c hội.

Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ cho bị cáo vì bị cáo đang nuôi con nhỏ.

Bị hại yêu cầu bị cáo tr lại s tiền 100.000.000 đồng đã chiếm đoạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định t tụng: Hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật T tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy t và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do cần tiền chi tiêu cá nhân, ngày 07/4/2020, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian d i là sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất là giấy tờ gi để cam kết vay của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982, cư trú tại thôn G, xã Q, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình s tiền 120.000.000 đồng sau đó chiếm đoạt, phục vụ nhu cầu của b n thân. Đến nay bị cáo không tr tiền cho anh T. Lời khai của bị cáo phù hợp với đơn t cáo và lời khai của bị hại là anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982, cư trú tại thôn G, xã Q, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Kết luận giám định s 1632/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất cần giám định ký hiệu A là gi ; Lời khai của người làm chứng là anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1984, cư trú tại s nhà 05, ngõ 78, đường Hoàng Văn T, tổ 9, phường T, thành ph T, tỉnh Thái Bình và còn phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Từ căn cứ nêu trên hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm vào tội: về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức quy định tại điểm d kho n 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội Lừa đ o chiếm đoạt tài s n theo quy định tại điểm c kho n 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Điều 341: Tội làm gi con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan tổ chức

1.Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) ……

d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng

…..

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Điều 174. Tội lừa đ o chiếm đoạt tài s n

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

......

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) ........

c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

.........

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[4] Hành vi làm gi 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n gắn liền với đất đã xâm phạm đến hoạt động đứng đắn bình thường của cơ quan hà nước trong lĩnh vực qu n lý hành chính về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy việc truy t , xét xử đ i với bị cáo là đúng pháp luật.

[4.1] Hành vi dung thủ đoạn gian d i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gi để chiếm đoạt s tiền 120.000.000 đồng chiếm đoạt ngày 07/4/2020 của anh Nguyễn Văn T phục vụ nhu cầu của b n thân. Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài s n được pháp luật b o vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Do đó, cần ph i xử ý kịp thời và có một hình phạt nghiêm khắc đ i với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời s ng xã hội một thời gian mới tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo, có tác dụng giáo dục đ i với bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tại phiên toà Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương rút đề nghị trong Cáo trạng về tình tiết tăng nặng trách nhiệm cho bị cáo theo điểm h kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự vì hành vi trước đó ngày 28/02/2020 bị cáo có hành vi làm gi con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức và bị xét xử tại b n án s 30/2021/HS-ST ngày 08/6/2021. Ngày 07/4/2020 lại phạm tội và bị xét xử lần này không coi là tái phạm theo Điều 53 Bộ luật hình sự. Đ i với việc Viện kiểm sát viên rút truy t bị cáo về tình tiết tăng nặng trách nhiệm theo điểm h kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là có căn cứ cần chấp nhận.

[6] Về tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ: Bị cáo không ph i chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên toà cũng như tại giai đoạn điều tra bị cáo thành khẩn khai báo do đó bị cáo được hưởng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 14/6/2024, bị cáo chuyển tiền tr lại Nguyễn Văn T s tiền 20.000.000 đồng khắc phục một phần hậu qu , nên cần áp dụng kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đ i với bị cáo.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo làm nghề lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hiện đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[8] Về tổng hợp hình phạt: Tại B n án s 30/2021/HS-ST ngày 08/6/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 06 năm tù về tội Làm gi tài liệu của cơ quan, tổ chức chưa chấp hành án, được hoãn chấp hành án phạt tù do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Kho n 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự quy định: Trong trường hợp một người đang ph i chấp hành một b n án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có b n án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đ i với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật hình sự. Do đó cần ph i tổng hợp hình phạt của lần xét xử này và hình phạt của b n án s 30/2021/HS-ST ngày 08/6/2021.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n gắn liền với đất gi là chứng cứ của vụ án, cần qu n lý lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, anh guyễn Văn T đề nghị guyễn Thị H tr lại s tiền 100.000.000 đồng đã chiếm đoạt ngày 07/4/2020 và s tiền 120.000.000 đồng H vay anh T ngày 02/3/2020, tổng s tiền là 220.000.000 đồng. Đ i với s tiền bị cáo H vay của anh guyễn Văn T ngày 02/3/2020 chưa tr là tho thuận trong giao dịch dân sự, anh T có quyền khởi kiện vụ án gi i quyết theo quy định của pháp luật dân sự. Hội đồng xét xử không xem xét gi i quyết kho n tiền ngày 02/3/2020 trong vụ án hình sự xét xử đ i với hành vi phạm tội của bị cáo. Nay cần tr lại anh guyễn Văn T tài liệu b n g c giấy hẹn thanh toán tiền của guyễn Thị H đề ngày 15/3/2023.

[10.1] Đ i với s tiền 120.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt của anh guyễn Văn T ngày 07/4/2020 bị truy t , xét xử, gày 14/6/2024, bị cáo chuyển tiền tr lại anh guyễn Văn T s tiền 20.000.000 đồng khắc phục một phần hậu qu . ay cần buộc bị cáo ph i tr lại anh T s tiền bị cáo chiếm đoạt còn lại là 100.000.000 đồng.

[11] Đ i với Đặng Văn là chồng bị cáo và là người có tên trong giấy tờ gi , qua xác minh anh N không biết gì về việc vay mượn tiền giữa bị cáo H và anh Nguyễn Văn T và hành vi bị cáo làm gi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy Cơ quan Điều tra không xử lý là có căn cứ.

[12] Về án phí: Bị cáo ph i chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Qu c Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d kho n 2 Điều 341; điểm c kho n 2 Điều 174; Điều 50; điểm s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; kho n 1 Điều 56; Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 30; kho n 2 Điều 136 ộ luật T tụng hình sự. Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự. Các điều 23, 26 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Qu c Hội.

1. Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức và tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”.

2. Về hình phạt: - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 04 (b n) năm tù về tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”.

- Tổng hợp hình phạt hai tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu gi của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”. Bị cáo Nguyễn Thị H ph i chịu 07 (b y) năm tù.

- Tổng hợp hình phạt 06 năm tù tại B n án s 30/2021/HS-ST ngày 08/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo ph i chịu 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng: - Tiếp tục qu n lý 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n gắn liền với đất s CC 108572 ghi ngày 07/3/2020 để lưu trữ trong hồ sơ vụ án. (Kết luận giám định số 1632/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giả).

- Tr lại anh guyễn Văn T tài liệu b n g c giấy hẹn thanh toán tiền lưu theo hồ sơ vụ án của guyễn Thị H đề ngày 15/3/2023.

4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H ph i bồi thường cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982, cư trú tại thôn G, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình s tiền 100.000.000 đồng.

Trường hợp b n án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về án phí: ị cáo guyễn Thị H ph i chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị H, bị hại anh Nguyễn Văn T có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ