- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 197 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 25/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Lƣớc;
2. Ông Đồng Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trƣờng Phúc - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Hữu Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐ-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐ-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hà Quốc K (tên gọi khác: Không), sinh năm 2000, tại Quảng Nam. Nơi cƣ trú: Tổ E, ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; cha: Không rõ, mẹ là bà Hà Thị L, sinh năm 1968. Bị cáo có 01 chị sinh năm 1994. Bị cáo chƣa có vợ, con.
Nhân thân: Ngày 26/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất vũ khí quân dụng theo Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Ngọc T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1991 tại Bình Dƣơng. Nơi cƣ trú: Ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc T1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966. Bị cáo có 03 ngƣời em, ngƣời lớn nhất sinh năm 1993, ngƣời nhỏ nhất sinh năm 2004. Bị cáo có vợ là La Thị Ngọc Á, sinh năm 1996; có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 19/9/2021, bị UBND xã B xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe ngƣời khác theo Quyết định số 1242/QĐXPHC. Bị cáo chấp hành xong ngày 26/01/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Lê Ngọc Q, sinh năm 1993, nơi cƣ trú: Ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng; Có mặt.
- Lâm Minh H1, sinh năm 1994, nơi cƣ trú: Ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng; Có đơn xin vắng mặt.
- Nguyễn Bá C, sinh năm 1991, nơi cƣ trú: Ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng; Có đơn xin vắng mặt.
Ngƣời bào chữa cho các bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T có ông Nguyễn Tuấn S – Luật sƣ – Đoàn Luật sƣ tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hà Quốc K và Lê Ngọc T là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 13 giờ ngày 29/3/2023, T nhờ Nguyễn Bá C chở T đến nhà K tại ấp B, xã B, huyện B để kêu Lê Ngọc Q là em ruột của T đi về nhà nhƣng không gặp đƣợc Q.
Khi đến nhà K, T nhìn thấy có bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên bàn nên T hỏi K có ma túy không. Do đã hết ma túy nên K nhờ T đặt mua 300.000 đồng ma túy thì T đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại cho ngƣời tên V (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 300.000 đồng ma túy và hẹn giao, nhận ma túy tại khu vực cầu B thuộc xã B, huyện B. Sau khi đặt mua ma túy của V, T kêu K đi đến điểm hẹn để nhận ma túy. K mƣợn xe mô tô (không rõ biển số) của C để đi lấy ma túy nhƣng K không nói cho C biết đi đâu. Trƣớc khi đi lấy ma túy, K kêu T ở nhà làm cái nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy; T đồng ý và lấy 01 ống thủy tinh làm thành 01 cái nỏ. Sau khi lấy ma túy về, K lấy 01 túi nylon (chứa ma túy) đổ một phần ma túy vào nỏ thủy tinh để sử dụng cùng với T; C ngồi chơi nhƣng không sử dụng ma túy. Một lúc sau T kêu C chở T đi công việc. Khi T và C đi thì Q đi bộ đến nhà K; Q nhìn thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà K và T sử dụng trƣớc đó để dƣới sàn, bên trong còn ma túy nên đã tự ý lấy sử dụng, K thấy nhƣng không nói gì. Sử dụng ma túy xong, Q đi vào phòng ngủ của K để chơi game. Sau khi đi công việc xong, C chở T quay lại nhà K, T vào nhà K còn C điều khiển xe đi về.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Lâm Minh H1 đến nhà của K để sử dụng ma túy. Khi đến nhà K, H1 nhìn thấy ma túy bên trong dụng cụ còn ít nên kêu K lấy thêm ma túy để H1 sử dụng. K lấy số ma túy còn lại (sử dụng trƣớc đó với T) đổ vào nỏ thủy tinh rồi K, H1 và T cùng tiếp tục sử dụng. Sử dụng ma túy đƣợc một lúc thì T đi về nhà, K và H1 ở lại chơi game. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, Công an xã B tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Hà Quốc K, Lâm Minh H1 và Lê Ngọc Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 bịch nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;
- 01 bịch nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;
- 01 ống thủy tinh đƣợc uốn cong thổi phồng một đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu nâu trắng;
- 10 ống thủy tinh rỗng có lỗ hai đầu;
- 10 bịch nylon miệng kéo dính chƣa qua sử dụng;
- 01 bật lửa đã qua sử dụng;
- 01 chai nhựa, nắp chai bị đục 02 lỗ tròn, 01 ống hút nhựa màu xanh đã qua sử dụng;
- 01 cân điện tử hình dạng chuột máy tính màu đen trên nắp có chữ Mouse S1;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 của Hà Quốc K;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12, màu xanh của Hà Quốc K.
Tại bản kết luận giám định số 177/KL-KTHS(MT) ngày 07/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lƣợng/ trọng lƣợng: 0,0231 gam (M1-1); 0,0518 gam (M1-2).
- Mẫu tinh thể gửi giám định có khối lƣợng/ trọng lƣợng: 7,8295 gam (M2), tìm không thấy các tiền chất và các chất ma túy nằm trong danh mục quản lý của Chính phủ.
- Đối với 02 bì thƣ đƣợc niêm phong chứa chất ma túy sau giám định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ. Đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 ống thủy tinh đƣợc uốn cong thổi phồng một đầu, 10 ống thủy tinh rỗng có lỗ hai đầu, 10 túi nylon miệng kéo dính chƣa qua sử dụng, 01 bật lửa đã qua sử dụng, 01 chai nhựa (nắp chai bị đục 02 lỗ tròn), 01 ống hút nhựa màu xanh đã qua sử dụng, 01 cân điện tử hình dạng chuột máy tính màu đen trên nắp có chữ Mouse Scale. Đây là những đồ vật các đối tƣợng sử dụng cho mục đích sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 của Hà Quốc K và 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12, màu xanh của Hà Quốc K. Đây là tài sản cá nhân của K không liên quan đến hành vi phạm tội của K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Lê Ngọc T sử dụng để liên lạc đặt mua ma túy. Sau khi phạm tội thì T đã làm mất ở đâu không rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không thu giữ đƣợc.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô (Không rõ biển số) của Nguyễn Bá C cho K mƣợn để lấy ma túy C không biết nhƣng sau đó C đã bán ve chai cho ai ở đâu không nhớ rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không thu giữ đƣợc và một số vật chứng khác đã đƣợc giải quyết, xử lý trong Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng đã có hiệu lực pháp luật.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-BTU ngày 13/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và trong bản luận tội đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy .
Mức hình phạt đề nghị đối với Hà Quốc K từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.
Mức hình phạt đề nghị đối với Lê Ngọc T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bìa thƣ đã đƣợc niêm phong dán kín có ký hiệu 177-M1/PC09 và 177-M2/PC09 bên trong có chứa M1-1 0,000 gam; M-2: 0,000gam; M2- 3,7315 gam (trọng lƣợng sau giám định) ma túy loại Methamphetamine; 01 ống thủy tinh đƣợc uốn cong thổi phồng một đầu, 10 ống thủy tinh rỗng có lỗ hai đầu, 10 bịt nylon miệng kéo dính chƣa qua sử dụng, 01 bật lửa đã qua sử dụng, 01 chai nhựa, nắp chai bị đục 02 lỗ tròn, 01 ống hút nhựa màu xanh đã qua sử dụng, 01 cân điện tử hình dạng chuột máy tính màu đen trên nắp có chữ Mouse Scale.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số seri: 359751045105975 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12, màu xanh, số I: 34312130775910 cho Hà Quốc K.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T thống nhất nội dung và các điều, khoản mà Viện Kiểm sát đã truy tố, thống nhất bản luận tội, đồng thời trong bài bào chữa đƣa ra các luận cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T hoàn toàn thừa nhận toàn bộ hành vi nhƣ cáo trạng đã truy tố, các bị cáo thống nhất các kết luận giám định, các bị cáo không tranh luận, không trình bày ý kiến tự bào chữa và lời nói sau cùng các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội ăn năn, cải tạo thành ngƣời tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung.
Việc vắng mặt của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lâm Minh H1 và ông Nguyễn Bá C đã có lời khai và cam đoan có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hƣởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.
Lời khai và nhận tội của các bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ, phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với diễn biến tại phiên tòa.
Có căn cứ xác định ngày 29/3/2023, bị cáo Hà Quốc K có hành vi mua và cung cấp ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy sử dụng địa điểm là nhà riêng của bị cáo K cho Lê Ngọc T, Lâm Minh H1, Lê Ngọc Q vào phòng khách của bị cáo K để cùng nhau sử dụng ma túy, đây là hành vi đƣa trái phép ma túy vào cơ thể ngƣời khác. Lê Ngọc T có hành vi giúp sức cho K – là ngƣời chế tạo nỏ sử dụng ma túy để cho Hà Quốc K, Lâm Minh H1, Lê Ngọc Q đƣa trái phép ma túy vào cơ thể ngƣời khác.
Các bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T thừa nhận đã sử dụng ma túy nhiều lần, bộ D sử dụng ma túy và số ma túy bị thu giữ khi cơ quan điều tra khám xét tại nhà của bị cáo K là của K, kết quả xét nghiệm của cơ quan y tế xác định Hà Quốc K, Lê Ngọc T, Lâm Minh H1, Lê Ngọc Q đều dƣơng tính với chất ma túy đá (Loại Methamphetamine). Tại Bản kết luận giám định số 177/ KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lƣợng/trọng lƣợng: 0,0231 gam (M1-1); 0,0518 gam (M1-2) là chất thuộc danh mục Nhà nƣớc cấm lƣu hành.
Do đó, Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-BTU ngày 13/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà N về quản lý chất gây nghiện, trong tình hình hiện nay trên địa bàn huyện, Nhà nƣớc và nhân dân đang ra sức vận động toàn dân phòng chống ma túy nên việc các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy tại nhà riêng của bị cáo K là hành vi xem thƣờng pháp luật nên cần có hình phạt nghiêm khắc để trừng trị, giáo dục các bị cáo để các bị cáo có cơ hội, thời gian thấy rõ sai lầm mà khắc phục, sữa chữa, cải tạo thành ngƣời tốt cho xã hội, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cần xem xét toàn diện vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng cho các bị cáo để từng bị cáo thấy đƣợc sự khoan hồng của pháp luật.
Về vai trò của bị cáo Hà Quốc K: Bị cáo là ngƣời đã trƣởng thành, có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy nhƣng vẫn đi mua cung cấp ma túy để sử dụng, khơi gợi, tổ chức đƣa trái phép chất ma túy vào cơ thể nhiều ngƣời khác. Nhƣ vậy, cần phải áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có thể cải tạo, giáo dục, cảnh tỉnh đƣợc bị cáo.
Về nhân thân: Ngày 26/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất vũ khí quân dụng theo Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-PT. Bị cáo thuộc trƣờng hợp có nhân thân xấu.
Đối với bị cáo Lê Ngọc T là ngƣời giúp sức tích cực cho bị cáo K chế tạo nỏ để tổ chức cho nhiều ngƣời sử dụng ma túy, nhƣ vậy cần áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về nhân thân: Ngày 19/9/2021, bị UBND xã B xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hải sức khỏe ngƣời khác theo Quyết định số 1242/QĐXPHC. Bị cáo chấp hành xong ngày 26/01/2024 nên bị cáo thƣợc trƣờng hợp có nhân thân xấu.
Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn cùng nhau thực hiện.
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo là phù hợp.
Các tình tiết giảm nhẹ khác: Không.
Xét thấy, qua bản luận tội, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng đối với các bị cáo là phù hợp, vùa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung và vừa đảm bảo công tác phòng chống tội phạm về trong tình hình hiện nay trên địa bàn huyện B.
Ý kiến của Ngƣời bào chữa cho các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Về các vật chứng thu giữ liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bìa thƣ đã đƣợc niêm phong dán kín có ký hiệu 177-M1/PC09 và 177-M2/PC09 bên trong có chứa M1-1 0,000 gam; M-2: 0,000gam; M2- 3,7315 gam (trọng lƣợng sau giám định) ma túy loại Methamphetamine; 01 ống thủy tinh đƣợc uốn cong thổi phồng một đầu, 10 ống thủy tinh rỗng có lỗ hai đầu, 10 bịt nylon miệng kéo dính chƣa qua sử dụng, 01 bật lửa đã qua sử dụng, 01 chai nhựa, nắp chai bị đục 02 lỗ tròn, 01 ống hút nhựa màu xanh đã qua sử dụng, 01 cân điện tử hình dạng chuột máy tính màu đen trên nắp có chữ Mouse Scale.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số seri: 359751045105975 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12, màu xanh, số I: 34312130775910 không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo Hà Quốc K.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Lê Ngọc T sử dụng để liên lạc đặt mua ma túy nhƣng không thu giữ đƣợc và 01 chiếc xe máy loại cúp 50 do Nguyễn Bá C đã bán ve chai không thu giữ đƣợc nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hà Quốc K và Lê Ngọc T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
2. Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, điểm a, b khoản 2 của Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Hà Quốc K
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Quốc K 09 (chín) năm tù.
Tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất vũ khí quân dụng buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án là 10 (Mƣời) năm 09 (Chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày bị bắt tạm giam, giữ 29/3/2023.
3. Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Ngọc T.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 08 (T2) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày bị bắt tạm giam, giữ 26/01/2024.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên bố: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bìa thƣ đã đƣợc niêm phong dán kín có ký hiệu 177-M1/PC09 và 177-M2/PC09 bên trong có chứa M1-1 0,000 gam; M-2: 0,000gam; M2- 3,7315 gam (trọng lƣợng sau giám định) ma túy loại Methamphetamine; 01 ống thủy tinh đƣợc uốn cong thổi phồng một đầu, 10 ống thủy tinh rỗng có lỗ hai đầu, 10 bịt nylon miệng kéo dính chƣa qua sử dụng, 01 bật lửa đã qua sử dụng, 01 chai nhựa, nắp chai bị đục 02 lỗ tròn, 01 ống hút nhựa màu xanh đã qua sử dụng, 01 cân điện tử hình dạng chuột máy tính màu đen trên nắp có chữ Mouse Scale.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số seri: 359751045105975 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A12, màu xanh, số I: 34312130775910 cho bị cáo Hà Quốc K.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên ngày 14/3/2024).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm;
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - PV06 Công an tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND huyện Bắc Tân Uyên; - Công an huyện Bắc Tân Uyên; - CCTHADS huyện Bắc Tân Uyên; - Các bị cáo; - Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lƣu: VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |