- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/01/2024 V/v tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà ÂU THỊ THẢO
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông TRẦN TRUNG NHÂN
2. Ông HUỲNH VĂN DŨNG
-Thư ký phiên tòa: Ông HỨA QUỐC THÁI - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà HUỲNH THỊ CẨM – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 672/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị NGUYỄN THỊ NG, sinh năm 1988.
Địa chỉ: ấp Mỹ L, xã Thiện Tr, huyện Cái B, tỉnh Tiền G.
2. Bị đơn: Anh ĐOÀN VĂN D, sinh năm 1987.
Địa chỉ: ấp Mỹ L, xã Thiện Tr, huyện Cái B, tỉnh Tiền G.
(Chị Ng có mặt, anh D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tờ tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại Tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày: Do quen biết chị và anh Đoàn Văn D chính thức xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thiện Tr, huyện Cái B, tỉnh Tiền G. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do anh D không chí thú làm ăn thường xuyên uống rượi bia và có những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm đối với chị nên vợ chồng đã chính thức ly thân từ tháng đó cho đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh D. Về con chung: có 01 con chung tên Đoàn Gia H, sinh ngày 11/03/2019 hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi cháu H và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đoàn Văn D không có văn bản ý kiến và vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên, bị đơn vắng mặt không lý do.
Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và của các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Hiện tại thì chưa phát hiện sai sót gì để kiến nghị khắc phục. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng. Cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Đoàn Văn D. Về con chung: Giao 01 con chung tên Đoàn Gia H, sinh ngày 11/03/2019 cho chị Ng được trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Ng không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Anh Đoàn Văn D vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh D là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Do quen biết chị và anh Đoàn Văn D chính thức xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thiện Tr, huyện Cái B, tỉnh Tiền G. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do anh D không chí thú làm ăn thường xuyên uống rượi bia và có những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm đối với chị nên vợ chồng đã chính thức ly thân từ tháng đó cho đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh D. Xét thấy, cho chị Ng được ly hôn anh D là có cơ sở. Bởi lẽ, từ khi ly thân tới nay anh chị cũng không có phương án nào để hàn gắn xây dựng tổ ấm và tại phiên tòa chị Ng khẳng định không còn tình cảm với anh D. Đồng thời, trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh D để đảm bảo quyền nêu ý kiến của anh, cũng như hoà giải để anh chị đoàn tụ nhưng anh D vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, anh cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện anh không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh D nên không có biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ được. Do đó, cuộc sống hôn nhân của anh chị đã thật sự đổ vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, yêu cầu xin ly hôn của chị Ng là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ng, cho chị được ly hôn anh D là phù hợp theo Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Ng và anh D có 01 con chung tên Đoàn Gia H, sinh ngày 11/03/2019. Xét thấy, tiếp tục giao cháu H cho chị Ng nuôi dưỡng là có cơ sở. Bởi lẽ, cháu đã sống ổn định với chị Ng từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Từ đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống học tập của cháu nên giao cháu Đoàn Gia H cho chị Ng được trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chị Ng xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết cũng như anh D không có ý kiến gì liên quan đến nợ chung và tài sản chung nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[6] Về án phí: Chị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[7] Xét ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng. Cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Đoàn Văn D.
Về con chung: Giao 01 con chung tên Đoàn Gia H, sinh ngày 11/03/2019 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đoàn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ng không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0013241 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè nên xem như thi hành xong.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ng được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đối với anh Đoàn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cái Bè; - CCTHADS huyện Cái Bè; - UBND xã Thiện Tr, huyện Cái B; - Đương sự; - Lưu: TDS, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ÂU THỊ THẢO |