- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện QĐ hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết B về việc:
- Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 168 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2024/HC-ST Ngày: 05-4-2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thanh Thị Minh Hiền;
2. Ông Đào Văn Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2023/TLST-HC ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HC ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
,
- Người khởi kiện: Ông Hồ Viết B, sinh năm 1956 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số D đường A, Khu phố A, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Đỗ Minh T, sinh năm: 1978 (Có mặt) (theo hợp đồng ủy quyền ngày 11/8/2023).
Địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B
Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Phan Thành L - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
+ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thành L - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm: 1982 (Vắng mặt)
+ Bà Nguyễn Thị Thùy L1, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà L1: Ông Đỗ Minh T, sinh năm: 1978 (Có mặt) (theo hợp đồng ủy quyền ngày 22/11/2023).
Địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Hồ Viết B và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Đỗ Minh T trình bày:
Ngày 28/06/2023, ông Hồ Viết B có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Nguyễn Thị Thùy L1, sinh năm 1984 và ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1982 thửa đất số 32, tờ bản đồ số 18, diện tích đất là 425m2, đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền trên đất số CO 667172, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 02407 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 20/9/2018, cập nhật biến động ngày 01/03/2019 đứng tên bà Nguyễn Thị Thùy L1. Hai bên có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C công chúng ngày 28/06/2023, số công chứng 05427, quyển số 06/2023 TP/CC-SCC/HDGD.
Sau khi ký hợp đồng nhận chuyển nhượng, ngày 29/06/2023 ông B có nộp hồ sơ đề nghị làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng đất tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Ủy ban nhân dân thành phố PThiết để làm thủ tục đăng ký sang tên quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên, có giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả giải quyết. Tuy nhiên, đến ngày 06/7/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Văn bản số 1051/CNVPĐKĐĐPT của Chi nhánh Văn phòng Đ trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B “Về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B”. Nội dung Văn bản số 1051/CNVPĐKĐĐPT cho rằng: “Qua kiểm tra phần đất ở của ông có nguồn gốc chuyển mục đích quyền sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”.
Ông B cho rằng Chi nhánh Văn phòng Đ không giải quyết hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng của ông B với những lý do nêu tại Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT là trái quy định pháp luật về đất đai, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông B là người thứ ba nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngay tình. Do đó, ông Hồ Viết B làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 06/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B.
- Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho ông Hồ Viết B theo đúng quy định pháp luật.
* Tại văn bản số 3303/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 22/12/2023, người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày: Thống nhất theo văn bản số 12159/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 12/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
* Tại văn bản số 12159/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 12/12/2023 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P trình bày:
Ngày 29/6/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ cập nhật chỉnh lý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B (do ông Tôn Thất T1 được ủy quyền nộp hồ sơ) tại biên nhận số 2023- 10312/TNHS.
Ông Hồ Viết B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị Thùy L1 cùng chồng là ông Nguyễn Trọng N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 05427, quyển số 06/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/6/2023 tại Văn phòng C đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ số 18, diện tích 425m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667172 do UBND thành phố P cấp ngày 20/9/2018.
Qua kiểm tra rà soát hồ sơ thì thửa đất số 32, tờ bản đồ số 18 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 667172 có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị Thùy L1 chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 5444/QĐ- UBND ngày 02/8/2018 của UBND thành phố P đối với thửa đất số 608, tờ bản đồ số 02 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389029 do UBND thành phố P cấp ngày 11/7/2007 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất (quy hoạch là đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.
Do đó, Chi nhánh Văn phòng thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh liên quan đến đất chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định. Đến ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau: “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696/KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Sau khi UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh”.
Đồng thời, ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng có công văn số 2120/CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp).
Như vậy, căn cứ Công văn số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của Văn phòng Đ thì hiện nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 06/7/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Hồ Viết B được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
* Quá trình giải quyết vụ án, tại văn bản số 558/UBND-NC ngày 24/01/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:
Thửa đất mà ông Hồ Viết B đăng ký chuyển quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 32 (diện tích 425m2), tờ bản đồ số 18, loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667172, số vào sổ cấp GCN: CH 02407 do UBND thành phố P cấp ngày 20/9/2018 cho bà Nguyễn Thị Thùy L1 có nguồn gốc từ Giấy chứng nhận số AH 389029 do UBND thành phố P cấp ngày 11/7/2007 cho ông Phạm Ngọc Q và được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật chuyển nhượng sang tên cho bà Nguyễn Thị Thùy L1 vào ngày 07/02/2017.
Liên quan đến nội dung này, ngày 02/8/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 5444/QĐ-UBND về việc cho phép bà Nguyễn Thị Thùy L1 được chuyển mục đích sử dụng đất (vị trí được thể hiện tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 235-2017, tờ bản đồ số 18 (2-(12)) do Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 13/12/2017). Theo nội dung Quyết định cho phép bà Nguyễn Thị Thùy L1 được chuyển sang sử dụng: vào mục đích đất ở tại nông thôn với diện tích 425m2.
Tại Quyết định số 5444/QĐ-UBND ngày 02/8/2018 của UBND thành phố P về việc cho phép bà Nguyễn Thị Thùy L1 được chuyển mục đích sử dụng đất thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử đụng đất năm 2018 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018.
Qua đối chiếu vị trí khu đất cho chuyển mục đích (vị trí được thể hiện tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 235-2017, tờ bản đồ số 18 (2- (12)) do Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 13/12/2017) với Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử đụng đất năm 2018 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 thì vị trí khu đất xin phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.
Căn cứ Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P cho phép bà Nguyễn Thị Thùy L1 chuyển mục đích sử dụng đất đất ở nông thôn tại Quyết định số 5444/QĐ-UBND ngày 02/8/2018 là không phù hợp với Quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật.
Ngày 06/7/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B.
Do đó, đối với nội dung mà ông Hồ Viết B yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 06/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.
* Người có quyền và lợi ích hợp pháp ông Nguyễn Trọng N và bà Nguyễn Thị Thùy L1 trình bày: Thống nhất như phần trình bày của người khởi kiện. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Quá trình đối thoại, các đương sự không thống nhất về toàn bộ vấn đề, đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện và người có quyền và lợi ích hợp pháp trình bày: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 32, Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Hồ Viết B, hủy Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 06/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B được Tòa án triệu tập hợp lệ, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính.
Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Ông Hồ Viết B khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 06/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho ông Hồ Viết B theo đúng quy định pháp luật đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ số 18, diện tích 425m2 tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667172 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 20/9/2018.
Căn cứ Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là khiếu kiện quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Về tư cách tham gia tố tụng:
Tòa án xác định Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện. Theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 04 năm 2015 của Bộ T2 - Bộ N1 - Bộ T3 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở T thì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai. Do đó, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không có tư cách pháp nhân.
Về thời hiệu khởi kiện:
Ngày 11/8/2023, ông Hồ Viết B có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 06/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B và buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Hơn 01 tháng sau khi nhận thông báo hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Hồ Viết b có đơn khởi kiện là còn thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết B, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông Phạm Ngọc Q được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389029 ngày 11/7/2007 đối với thửa đất số 602, tờ bản đồ số 02, diện tích 544m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ngày 24/8/2016, Chi nhánh Văn phòng Đ đo đạc lại xác định diện tích là 425m2. Sau đó, ông Q chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Thùy L1 được Chi nhánh văn phòng Đ cập nhật biến động vào ngày 07/02/2017.
Theo Quyết định số 5444/QĐ-UBND ngày 02/8/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc cho phép bà Nguyễn Thị Thùy L1 chuyển mục đích sử dụng đất. Ngày 20/9/2018, bà Nguyễn Thị Thùy L1 được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667172 đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ số 18, diện tích 425m2 đất ở tại nông thôn tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 28/6/2023, bà Nguyễn Thị Thùy L1 cùng chồng là ông Nguyễn Trọng N chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hồ Viết B theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 05427, quyển số 06/2023TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C.
Theo Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 06/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B thì việc trả hồ sơ đăng ký biến động của ông Hồ Viết B là do vị trí thửa đất nêu trên có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp với quy hoạch đất ở theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Hội đồng xét xử nhận thấy, trên cơ sở của Quyết định cho chuyển mục đích số 5444/QĐ-UBND ngày 02/8/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bà Nguyễn Thị Thùy L1 được chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn đối với thửa đất số 608, tờ bản đồ số 2, diện tích 425m2 được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CO 667172 cấp ngày 20/9/2018 mang tên bà Nguyễn Thị Thùy L1 và bà L1 đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính vào ngày 01/3/2019.
Mặc dù, tại văn bản số 558/UBND-NC ngày 24/01/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố P có ý kiến gửi cho Tòa án về nội dung khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy L1 cho rằng căn cứ vào Điều 52 Luật đất đai năm 2013 việc UBND thành phố P cho chuyển mục đích đất sang đất ở nông thôn tại quyết định số 5444/QĐ-UBND ngày 02/8/2018 là không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật, nhưng đến thời điểm hiện nay thì quyết định cho chuyển mục đích số 5444/QĐ-UBND ngày 02/8/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn còn hiệu lực chưa bị cơ quan nào hủy bỏ, thu hồi hoặc xác định việc cho chuyển mục đích quyền sử dụng đất trên là không đúng quy định của pháp luật và hiện nay thửa đất số 32, tờ bản đồ 18 nêu trên cũng không nằm trong danh sách đất bị ngăn chặn, cấm chuyển nhượng của cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Như vậy, ông Nguyễn Trọng N và bà Nguyễn Thị Thùy L1 thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hồ Viết B và ông Hồ Viết B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng không thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 168, Điều 188 và Điều 191 của Luật Đất đai.
Do đó, việc ông Nguyễn Trọng N và bà Nguyễn Thị Thùy L1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hồ Viết B là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật nên thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 95 của Luật Đất đai.
Ngoài ra, việc đăng ký biến động của ông Hồ Viết B chỉ là để thay đổi tên người chủ sử dụng đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P trả hồ sơ đăng ký biến động của ông Hồ Viết B tại thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 06/7/2023 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B nhưng không viện dẫn được căn cứ pháp lý nào để không thực hiện việc đăng ký biến động đất đai cho ông Hồ Viết B làm ảnh hưởng quyền lợi của ông B.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết B là có căn cứ nên chấp nhận, cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông Hồ Viết Bằng k phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, ông B thuộc diện người cao tuổi đã có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí nên không hoàn trả tiền tạm ứng án phí theo quy định.
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;
- Khoản 1 và khoản 4 Điều 95; Điều 168; Điều 188, Điều 191 của Luật Đất đai;
- Điều 60, Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết B về việc:
- Hủy Thông báo số 1051/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 06/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Viết B.
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí:
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000đồng án phí hành chính sơ thẩm.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Thái |