- Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Ông Hà Thành Đ; Địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của UBND thành phố B; giữ nguyên quyết định của Bản
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2024/HC-PT Ngày: 30/01/2024 V/v:“Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tào
Các Thẩm phán:
ông Trần Quốc Cường
bà Võ Thị Ngọc Dung
- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án cấp cao tại Đà
Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
toà: ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk LắK xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý 358/2023/TLPT-HC ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc: “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 162/2023/HC-ST ngày 26/9/2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 475/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 01 năm 2024; giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Hà Thành Đ;
Địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng (có đơn xin xét
xử vắng mặt).
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Ng i đ i diện theo ủy quy n của ng i b kiện: Ông Lê Đại T - chức vụ:
Phó chủ tịch UBND thành phố B. Vắng (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Ng i bảo vệ quy n và lợi ích hợp pháp cho ng i b kiện:
- Ông Trương Văn C - Giám đốc trung tâm phát triển quỹ đất thành phố
B. Vắng (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Võ Quang H - Phó Giám đốc trung tâm phát triển quỹ đất thành phố
B. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị B; ông Hà
Quốc D; ông Hà Quốc T1; bà Hà Thị Mai L; bà Hà Thị Mai C1.
Ng i đ i diện theo ủy quy n của ng i có quy n lợi và nghĩa vụ liên
quan ông Hà Quốc D; ông Hà Quốc T1; bà Hà Thị Mai L; bà Hà Thị Mai C1: Ông Hà Thành Đ.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng (có đơn xin
xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tố tụng, người khởi kiện ông Hà Thành Đ, đồng thời là
người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Quốc D; ông Hà Quốc T1; bà Hà Thị Mai L; bà Hà Thị Mai C1 trình bày:
Ngày 28/11/1995 UBND thành phố B cấp cho gia đình ông hai thửa đất
với tổng diện tích là 1.190m2; gồm 800m2 đất ở và 390m2 đất nông nghiệp (thực tế là 511,5m2 đất nông nhiệp) tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0468499 và số D 0468491 thuộc xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Gia đình ông gồm nhiều thế hệ đã sinh sống ổn định và kinh doanh rất tốt tại các thửa đất này. Đến năm 2016 thì Nhà nước thông báo chủ trương mở đường.
Ngày 23/12/2021, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 9198/QĐ-
UBND về việc thu hồi hồi 400m2 đất ở và 246,3m2 đất nông nghiệp để thực hiện dự án Đường Đ và Quyết định số 9151/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ. Đến ngày 24/01/2022 UBND thành phố B ban hành thêm Quyết định số 706/QĐ-UBND về việc thu hồi 400 m2 đất ở và 265,2 m2 đất nông nghiệp của gia đình ông để thực hiện dự án Đường Đ, thành phố B và Quyết định số 685/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ.
Như vậy, gia đình ông bị thu hồi hai lần với diện tích đất ở là 800m2 và
đất nông nghiệp là 511,5m2, trên đất có nhà đang ở và các công trình phục vụ cho việc kinh doanh của đại gia đình ông. UBND thành phố tổ chức các buổi đối thoại và vận động gia đình ông bàn giao mặt bằng và đề nghị nhận trước 02 lô tái định cư và sẽ giao thêm đất tái định cư cho gia đình ông sau. Vì thế ông đã đồng ý di dời tài sản và bàn giao mặt bằng.
Ngày 06/6/2022 UBND thành phố B đã ban hành Quyết định số
5772/QĐ-UBND về việc giao thửa đất số 1898 (thửa DO-RL2-37), tờ bản đồ 17 với diện tích 120m2 và Quyết định số 5773/QĐ-UBND về việc giao thửa đất số 1899 (thửa DO-RL2-38), tờ bản đồ 17 với diện tích 188,76m2 cùng tại khu tái định cư T xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho gia đình ông, đơn giá áp dụng theo Quyết định số 5501/QĐ-UBND ngày 26/5/2022 của UBND thành phố B.
Sau đó gia đình ông đã nhiều lần gửi đơn lên UBND thành phố và Trung
tâm phát triển quỹ đất đề nghị giao thêm thửa đất tái định cư cho gia đình nhưng đến nay vẫn không được giải quyết.
Gia đình ông bị thu hồi 800m2 đất ở và có 4 gia đình đang ở tại vị trí thu
hồi đất nên việc UBND thành phố chỉ giao 02 thửa đất là chưa thực hiện đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: “a) Tr ng hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn l i sau thu hồi không đủ đi u kiện để ở theo quy đ nh của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở khác trong đ a bàn xã, ph ng, th trấn nơi có đất ở thu hồi thì đ ợc bồi th ng bằng đất ở hoặc nhà ở tái đ nh c ” và tại khoản 1 khoản 2 Điều 4 Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ cũng quy định:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, ng i Việt Nam đ nh c ở
n ớc ngoài đang sở hữu nhà ở gắn li n với quy n sử dụng đất t i Việt Nam khi Nhà n ớc thu hồi đất ở mà đủ đi u kiện đ ợc bồi th ng quy đ nh t i Đi u 75 Luật Đất đai năm 2013, khoản 1 Đi u 6 Ngh đ nh số 47/2014/NĐ-CP thì đ ợc bồi th ng bằng việc giao đất ở, cụ thể nh sau:
a. Tr ng hợp thu hồi hết diện tích đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn l i
nhỏ hơn h n mức tách thửa theo quy đ nh của Ủy ban nhân dân tỉnh mà
hộ gia đình cá nhân không còn đất ở trong đ a bàn xã, ph ng, th trấn
nơi có đất b thu hồi thì đ ợc giao 01 (một) thửa đất ở t i nơi tái đ nh c .
Đối với đ a ph ơng có đi u kiện v quỹ đất, tr ng hợp diện tích thu hồi
lớn hơn diện tích một thửa đất t i nơi tái đ nh c thì căn cứ vào diện tích
thu hồi và diện tích một thửa đất t i nơi tái đ nh c để giao số thửa t ơng
ứng với diện tích thu hồi.
b. Tr ng hợp trong hộ gia đình quy đ nh t i điểm a khoản 1 Đi u này mà
trong hộ có nhi u thế hệ, nhi u cặp vợ chồng cùng chung sống trên 01
(một) thửa đất ở thu hồi nếu đủ đi u kiện để tách thành từng hộ gia đình
riêng theo quy đ nh của pháp luật v c trú hoặc có nhi u hộ gia đình có
chung quy n sử dụng 01 (một) thửa đất ở thu hồi nếu số thửa đ ợc giao
tái đ nh c không đủ bố trí cho từng hộ gia đình thì giao Ủy ban nhân dân
các huyện, th xã, thành phố (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp
huyện) căn cứ vào đi u kiện quỹ đất ở để quyết đ nh giao đất tái đ nh c
cho từng hộ. Thửa đất giao thêm là thửa đất có diện tích nhỏ nhất trong
khu tái đ nh c .”
c. Từ những căn cứ trên, ông đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xem xét
giải quyết: Buộc UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giao thêm 3 thửa đất
tái định cư tương ứng với diện tích đất ở đã thu hồi của cho gia đình ông,
đơn giá áp dụng theo Quyết định số 5501/QĐ-UBND ngày 26/5/2022 của
UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện trình bày:
Ngày 06/6/2022, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 5737/QĐ-
UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường bằng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đ, thành phố B (địa bàn xã H) và ban hành Quyết định số 6217; 6218/QĐ-UBND về việc giao đất cho hộ ông Hà Thành Đ. Khi thực hiện dự án Đường Đ, thành phố B thì hộ ông Hà Thành Đ bị thu hồi 1.311,5m2, trong đó có 800m2 đất ở và 511,50m2 đất nông nghiệp.
Ngày 23/12/2021 UBND thành phố B ban hành Quyết định số 9195/QĐ-
UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và ban hành Quyết định số 9198/QĐ-UBND về việc thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đ, thành phố B. Ngày 24/01/2022 UBND thành phố B ban hành Quyết định số 685/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và ban hành Quyết định số 706/QĐ-UBND về việc thu hồi khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đ, thành phố B.
Hộ ông Đ bị thu hồi hết đất ở, phải di chuyển chỗ ở và không còn đất ở
nào khác trên địa bàn xã H nên đủ điều kiện được giao đất tái định cư.
Căn cứ Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ và căn cứ Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 19/12/2019 của UBND tỉnh Đ quy định: “Tr ng hợp trong hộ gia đình có nhi u thế hệ, nhi u cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở b thu hồi, đủ đi u kiện để tách thành những hộ gia đình riêng theo quy đ nh của pháp luật v c trú hoặc có nhi u hộ gia đình có chung quy n sử dụng một thửa đất ở b thu hồi, căn cứ vào nhu cầu và quỹ đất của đ a ph ơng UBND cấp huyện xem xét giao thêm một thửa đất có thu ti n sử dụng đất.”.
Ngày 06/6/2022, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 5737/QĐ-
UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường bằng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đ, thành phố B (địa bàn xã H) và ban hành Quyết định số 6217; 6218/QĐ-UBND về việc giao đất cho hộ ông Hà Thành Đ.
Như vậy, UBND thành phố B giao cho hộ ông Hà Thành Đ 02 thửa đất tái
định cư là đúng quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xem xét không chấp nhận đơn khởi kiện của hộ ông Hà Thành Đ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị B trình bày:
Bà B đồng quan điểm với ông Hà Thành Đ và không trình bày gì thêm.
Bà đề nghị Tòa án xem xét buộc UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giao thêm 3 thửa đất tái định cư tương ứng với diện tích đất ở đã thu hồi, đơn giá áp dụng theo Quyết định số 5501/QĐ-UBND ngày 26/5/2022 của UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 162/2023/HC-ST ngày 26/9/2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 115; Điều 116; Điều 143;
Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 193 và Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính;
Áp dụng Điều 86 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 47/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều, khoản của Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ban hành kèm theo Quyết định số 14/2022/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thành Đ.
Buộc UBND thành phố B giao cho hộ ông Hà Thành Đ đất tái định cư
tương ứng với diện tích 491m2 đất ở. Trường hợp tổng diện tích các thửa đất giao tái định cư nhỏ hơn diện tích đất ở đã thu hồi, nhưng diện tích chênh lệch còn lại không đủ diện tích tối thiểu của 01 thửa đất tái định cư thì không xem xét. Đơn giá áp dụng theo Quyết định số 5501/QĐ-UBND ngày 26/5/2022 của UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
- Ngày 17/10/2023, UBND thành phố B có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với các lý do sau:
1. Tại bản án hành chính sơ thẩm số 66/2022/HC-ST ngày 23/8/2022 của
TAND tỉnh Đắk Lắk và Bản án hành chính phúc thẩm số 277/2022/HC-PT ngày 19/12/2022 của TANDCC Đà Nẵng có hiệu lực pháp luật đã xác định: “Việc UBND thành phố B giao 02 lô đất tái đ nh c là đúng quy đ nh pháp luật. Do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thành Đ”.
Như vậy, nội dung khởi kiện của ông Đ là thuộc trường hợp đã giải quyết
bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Tại Điều 22 Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND
tỉnh Đ, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk quy định: “Tr ng hợp đã có Quyết đ nh thu hồi đất và Quyết đ nh phê duyệt ph ơng án bồi th ng, hỗ trợ, tái đ nh c theo quy đ nh tr ớc ngày Quyết đ nh này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo ph ơng án đã đ ợc phê duyệt, không áp dụng theo quy đ nh của Quyết đ nh này”. Do đó, UBND thành phố B áp dụng Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 19/12/2019 của UBND tỉnh Đ để phê duyệt phương án tái định cư cho hộ ông Đ là đúng quy định; nhưng Bản án hành chính sơ thẩm số 162/2023/HC-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh tỉnh Đắk Lắk để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ là không đúng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát
biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
- Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của UBND thành
phố B; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét
tại phiên tòa và kết quả tranh luận; Xét thấy:
. Xét kháng cáo của UBND thành phố B; nhận thấy:
. Về nội dung kháng cáo cho rằng yêu cầu khởi kiện của ông Hà
Thành Đ là thuộc trường hợp đã giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật; xét thấy:
Hộ gia đình ông Hà Thành Đ là chủ sử dụng thửa đất số 292, tờ bản đồ số
6, diện tích 590m2 (gồm 400m2 đất ở và 190m2 đất màu) và thửa đất số 289, tờ bản đồ số 6, diện tích 600m2 ( gồm 400m2 đất ở và 200m2 đất màu).
- Ngày 23/12/2021, UBND thành phố B ban hành Quyết định số
9198/QĐ-UBND về việc thu hồi 400 m2 đất ở và 246,3 m2 đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Hà Thành Đ để thực hiện dự án Đường Đ thành phố B; đến ngày 24/01/2022, UBND thành phố B tiếp tục ban hành thêm Quyết định số 706/QĐ-UBND về việc thu hồi 400 m2 đất ở và 265,2 m2 đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Hà Thành Đ để thực hiện dự án Đường Đ, thành phố B.
- Ngày 23/7/2021, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 9195/QĐ-
UBND v/v phê duyệt ph ơng án bồi th ng, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi th ng, hỗ trợ khi Nhà n ớc thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đ, thành phố B (địa bàn xã H – đợt 11).
- Ngày 24/01/2022, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 685/QĐ-
UBND v/v phê duyệt ph ơng án bồi th ng, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi th ng, hỗ trợ khi Nhà n ớc thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đ, thành phố B (địa bàn xã H – đợt 14).
- Ngày 11/3/2022, ông Hà Thành Đ đã khởi kiện đối với 03 quyết định nói
trên. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ kiện này, ông Hà Thành Đ có đề đạt nguyện vọng được mua ít nhất 04 lô đất tái định cư vì gia đình ông có nhiều thế hệ con cái (thời điểm ông Đ khởi kiện và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thụ lý vụ án (thụ lý số 54/2022/TLHC-ST ngày 30/3/2022) thì UBND thành phố B chưa ban hành Quyết định số 5737/QĐ-UBND ngày 06/6/2022, về việc phê duyệt phương án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đ, thành phố B; Quyết định số 5772/QĐ-UBND ngày 06/6/2022 về việc giao thửa đất số 1898 (thửa DO-RL2-37), tờ bản đồ 17 với diện tích 120m2 và Quyết định số 5773/QĐ-UBND ngày 06/6/2022 , về việc giao thửa đất số 1899 (thửa DO-RL2-38), tờ bản đồ 17 với diện tích 188,76m2 cùng tại khu tái định cư T xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho gia đình ông Đ).
- Mặt khác, tại Bản án hành chính sơ thẩm số 66/2022/HC-ST ngày
23/8/2022 của TAND tỉnh Đăk Lăk và Bản án hành chính phúc thẩm số 277/2022/HC-PT ngày 19/12/2022 của TANDCC Đà Nẵng có nhận định “gia đình ông Đ đã đ ợc cấp 02 lô đất tái đ nh c theo Quyết đ nh số 5772/QĐ-UBND ngày 06/6/2022 nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ v yêu cầu cấp thêm đất tái đ nh c là có cơ sở, đúng pháp luật”. Tuy nhiên tại phần quyết định của cả hai bản án không tuyên “Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thành Đ về việc buộc UBND thành phố B giao đất tái định cư”. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thành Đ trong vụ án này về buộc UBND thành phố B thực hiện hành vi hành chính “giao đất tái định cư” là không thuộc trường hợp đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết là đúng pháp luật.
. Về nội dung kháng cáo cho rằng UBND thành phố B áp dụng Quyết
định số 27/QĐ-UBND ngày 19/12/2019 của UBND tỉnh Đ để phê duyệt phương án tái định cư cho hộ ông Đ là đúng quy định; nhưng Bản án hành chính sơ thẩm số 162/2023/HC-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ là không đúng; nhận thấy:
- Tại Điều 3 Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND
tỉnh Đ, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk quy định: “Quyết đ nh này có hiệu lực từ ngày 25 tháng 3 năm 2022”. Như vậy, Quyết định số 5737/QĐ-UBND ngày 06/6/2022, về việc phê duyệt phương án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đ, thành phố B được ban hành trong giai đoạn Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ có hiệu lực thi hành. Mặt khác, cũng chính trong Quyết định này UBND thành phố B cũng căn cứ vào Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày
15/3/2022 của UBND tỉnh Đ, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để giải quyết vụ án và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thành Đ là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. UBND thành phố B kháng cáo nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào mới có thể làm thay đổi nội dung vụ án, nên không có cơ sở chấp nhận; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên UBND thành phố
B phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Bác kháng cáo của UBND thành phố B; giữ nguyên quyết định của Bản
án hành chính sơ thẩm số 162/2023/HC-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
2. Về án phí phúc thẩm: UBND thành phố B phải chịu 300.000 đồng án
phí hành chính phúc thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004099 ngày 02/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk (do Nguyễn Kim T2 nộp).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk ; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Tào |